TIỂU SỬ

Họ và tên khai sinh: Đặng Xuân Khu

Họ và tên thường gọi: Trường Chinh

Sinh ngày: 09 tháng 2 năm 1907

Ngày mất: 30 tháng 9 năm 1988

Quê quán: làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định (nay thuộc huyện Xuân Trường, tỉnh Ninh Bình) 

Dân tộc: Kinh                        Tôn giáo: Không 

Ngày vào Đảng CSVN:  Năm 1930

Ủy viên Trung ương Đảng khóa: I, II, III, IV, V 

Đại biểu Quốc hội khóa:  II, III, IV, V, VI, VII

TÓM TẮT QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG

MỘT SỐ GÓP CỦA TỔNG BÍ THƯ TRƯỜNG CHINH

1.1. Hoạch định đường lối cách mạng đúng đắn, kịp thời

– Tại Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5 năm 1941), đồng chí Trường Chinh cùng Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định đường lối cách mạng phù hợp với bối cảnh lịch sử. Đồng chí là người trực tiếp khởi thảo Nghị quyết Trung ương 8 – văn kiện mang tính chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Hội nghị chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, thành lập Mặt trận Việt Minh để tập hợp lực lượng toàn dân, tạo nền tảng chính trị rộng rãi cho cuộc đấu tranh giành độc lập.

– Sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp (ngày 9 tháng 3 năm 1945), đồng chí Trường Chinh chủ trì Hội nghị Thường vụ Trung ương và soạn thảo Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (ngày 12 tháng 3 năm 1945). Chỉ thị xác định kẻ thù chính lúc này là phát xít Nhật, phát động cao trào kháng Nhật cứu nước làm tiền đề tiến tới tổng khởi nghĩa. Hình thức đấu tranh được đề ra đa dạng: từ bất hợp tác, bãi công, bãi thị đến biểu tình, thị uy, vũ trang, du kích – sẵn sàng chuyển sang tổng khởi nghĩa khi thời cơ chín muồi.

– Khi Nhật đầu hàng Đồng minh, đồng chí cùng Trung ương Đảng kịp thời nắm bắt thời cơ lịch sử, quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong cả nước. Tháng 8 năm 1945, đồng chí phụ trách Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, ra Quân lệnh số 1 – lệnh khởi nghĩa – và có những đóng góp xuất sắc vào thành công của Cách mạng Tháng Tám.

1.2. Trực tiếp tham gia lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng đi đến thắng lợi

– Trên cương vị Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng chí Trường Chinh trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng, giữ vững sự lãnh đạo thống nhất của Đảng trong giai đoạn mang tính quyết định.

– Ngay sau cuộc đảo chính của Nhật (9/3/1945), 15-3-1945, Tổng Bí thư Trường Chinh trực tiếp chỉ đạo Mặt trận Việt Minh phát động Cao trào kháng Nhật, cứu nước, thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ trên phạm vi cả nước.

– Đồng chí trực tiếp chỉ đạo tổ chức và xây dựng lực lượng cách mạng gồm lực lượng chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang, tạo nền tảng vững chắc cho cuộc Tổng khởi nghĩa. Từ ngày 15 đến 20 tháng 4 năm 1945, tại Hiệp Hòa (Bắc Giang), đồng chí triệu tập và chủ trì Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ – hội nghị quân sự quan trọng đầu tiên của Đảng, nhằm giải quyết nhiệm vụ quân sự, nhiệm vụ cấp bách nhất lúc bấy giờ.

– Thực hiện Chỉ thị của chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân đại hội để quyết định phát động tổng khởi nghĩa, thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng.

– Trong quá trình Tổng khởi nghĩa, đồng chí trực tiếp chỉ đạo các trung tâm lớn như Hà Nội, Huế, Sài Gòn, góp phần quyết định làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

2.1. Đóng góp trong việc hoạch định đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp (1945–1954)

– Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược. Trên cương vị Tổng Bí thư, đồng chí Trường Chinh đã tham gia vào quá trình xây dựng và phát triển đường lối kháng chiến của Đảng.

– Ông có vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện tư tưởng kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực cánh sinh – huy động sức mạnh của toàn dân tộc làm nòng cốt.

– Tháng 9 năm 1947, ông cho ra đời tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi”. Trong đó, Tổng Bí thư Trường Chinh đã đề ra các luận chứng và phát triển toàn bộ đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ của Đảng, khẳng định con đường tất thắng của cuộc kháng chiến. Tác phẩm nhanh chóng trở thành một trong những văn kiện lý luận quan trọng, định hướng cho toàn bộ cuộc kháng chiến.

2.2. Chỉ đạo xây dựng hậu phương và phát huy sức mạnh toàn dân

– Đồng chí Trường Chinh đóng vai trò nòng cốt trong việc xây dựng căn cứ địa Việt Bắc trở thành trung tâm chính trị, kinh tế và quân sự của cuộc kháng chiến.

– Ông trực tiếp chỉ đạo phát triển nền kinh tế kháng chiến, tài chính, văn hóa – giáo dục, bảo đảm nền tảng vững chắc cho cuộc chiến lâu dài.

– Một trong những đóng góp quan trọng là củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đặc biệt là liên minh công – nông. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, ông giữ vai trò then chốt trong việc lãnh đạo chính sách ruộng đất, nhằm đáp ứng nguyện vọng của nông dân và làm vững chắc cơ sở xã hội của cách mạng.

– Với cương vị Trưởng ban Cải cách ruộng đất Trung ương, ông trực tiếp chỉ đạo thực hiện chính sách cải cách ruộng đất (1953–1956). Chủ trương này đã làm thay đổi quan hệ ruộng đất ở nông thôn, tăng cường sự gắn bó giữa nông dân với cách mạng, đồng thời tạo điều kiện huy động nhân lực, vật lực phục vụ kháng chiến.

 

3.1. Đóng góp trong công tác tư tưởng, lý luận và xây dựng Đảng thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954–1975)

– Trường Chinh được xem là một trong những cây đại thụ về lý luận của Đảng. Ông dành nhiều tâm huyết cho việc xây dựng hệ thống tư tưởng, đường lối và phương pháp lãnh đạo, những yếu tố nền tảng quyết định sức mạnh của Đảng qua các giai đoạn cách mạng.

– Năm 1966, ông cho ra đời tác phẩm “Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nhất định thắng lợi”. Trong đó, ông phân tích sâu sắc bản chất cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, khẳng định ý chí kiên cường và sức mạnh của nhân dân Việt Nam. Tác phẩm nhanh chóng trở thành tài liệu quan trọng, định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng trong những năm tháng cam go nhất của cuộc kháng chiến.

– Không chỉ dừng lại ở lý luận, ông còn trực tiếp chỉ đạo công tác tuyên truyền, báo chí, xuất bản. Dưới sự chỉ đạo của ông, hệ thống báo chí cách mạng từ Trung ương đến địa phương được củng cố và phát huy mạnh mẽ, trở thành vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng. Những bài viết của ông trên Tạp chí Cộng sản, báo Nhân Dân thường xuyên xuất hiện, kịp thời giải đáp những vấn đề lý luận phức tạp, động viên tinh thần chiến đấu và lao động sản xuất của nhân dân cả nước.

 

SỔ TAY LỊCH SỬ

“Sóng Hồng – một nhân cách lớn, một hồn thơ lớn”

Tổng bí thư Trường Chinh không chỉ một chiến sĩ cộng sản kiên trung, mẫu mực, một nhà lãnh đạo kiệt xuất, có uy tín lớn của Ðảng và Nhà mà ông còn là nhà văn hóa và nhà báo lớn; nhà thơ đầy tâm huyết, với bút danh Sóng Hồng. Từ thuở thời niên thiếu với tình yêu nước và lý tưởng hoài bão Đặng Xuân Khu đã đến với thơ. Trường Chinh làm thơ và lý luận về thơ. Lí luận về thơ của đồng chí nằm trong hệ thống lí luận văn nghệ của Đảng mà đồng chí là một trong những người đặt nền móng. Thơ của đồng chí nói lên niềm hy vọng của cả một dân tộc, những mơ ước của nhân dân, vẽ nên những nhịp đập của trái tim quần chúng và xu thế chung của lịch sử loài người. Năm 1973, Hà Nội vừa trải qua 18 ngày đêm ngút trời khói lửa của trận tập kích không quân bằng B52 của Mỹ. Thơ Sóng Hồng lúc này dâng cả niềm tin vô cùng tươi đẹp: 

“Xóa sạch bất công, tan niềm cay đắng

Cho ngày mai rực ánh xuân hồng.

Đêm giao thừa, 

Quanh Hồ Gươm nườm nượp người xuôi ngược

Quần áo chen nhau thắm sắc màu” 

(Xuân Đại Thắng, Hà Nội tháng 2/1973). 

Thơ của nhà thơ Sóng Hồng là thơ ca cách mạng, tất cả vì cách mạng, thơ của một tâm hồn lớn của một nhà lãnh đạo kiệt xuất của dân tộc ta.  

Nguồn: Báo Lâm Đồng 

TƯ LIỆU HÌNH ẢNH

Bìa cuốn sách “Kháng chiến nhất định thắng lợi” của đồng chí Trường Chinh.

Nguồn: Báo Quân đội Nhân dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Trường Chinh cùng các đồng chí Thường vụ Trung ương Đảng họp bàn mở Chiến dịch Biên giới, năm 1950.

Nguồn: Báo Quân đội Nhân dân

Đồng chí Trường Chinh dẫn đầu Đoàn đại biểu nhân dân miền Bắc vào Thành phố Hồ Chí Minh dự Hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất Tổ quốc.

Nguồn: Báo Quân đội Nhân dân

Đồng chí Trường Chinh đọc Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ VI của Đảng, tháng 12-1986.

Nguồn: Báo Quân đội Nhân dân

Tổng bí thư Trường Chinh chúc tết bộ đội Trường Sơn xuân Giáp Dần 1974

(Ảnh: Lâm Hồng/ TTXVN)

Đồng chí Trường Chinh tiếp đoàn Đảng Cộng sản Pháp sang thăm chính thức Việt Nam, ngày 14/10/1978 

(Ảnh: Thế Trung/TTXVN)

Đồng chí Trường Chinh, Chủ tịch Hội đồng nhà nước với các cháu thiếu nhi tỉnh Lạng Sơn trong chuyến thăm Lạng Sơn tháng 10/1984

(Ảnh: Ngọc Đào/TTXVN)

Chủ tịch Trường Chinh cùng chủ tịch Fidel Castro ký Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác Việt Nam – Cuba 

(Ảnh: TTXVN)

Đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh đọc báo cáo trước Đại hội lần thứ II của Đảng, xã Vinh Quang (nay là xã Kim Bình), huyện Chiêm Hóa – tháng 2/1951.

( Nguồn: Báo Tuyên Quang)

TƯ LIỆU VIDEO

Câu hỏi củng cố

Câu 1. Tên thật của Tổng bí thư Trường Chinh là




Câu 2. Tác phẩm do đồng chí Trường Chinh soạn thảo là một trong những văn kiện quan trọng giải thích đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng (9/1947) là




Câu 3. Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (12/3/1945) do Tổng Bí thư Trường Chinh chủ trì soạn thảo có ý nghĩa như thế nào đối với Cách mạng tháng Tám?




Câu 4. Cho đoạn tư liệu sau đây:


“Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, cách mạng Việt Nam phải đồng thời thực hiện ba nhiệm vụ quan trọng:

1. Kiên quyết tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện nhằm bảo vệ nền độc lập và thống nhất của Tổ quốc;

2. Xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, bài trừ các tàn tích phong kiến và nửa phong kiến, mở rộng quyền dân chủ cho nhân dân lao động,

3. Từng bước chuẩn bị cơ sở vật chất, chính trị và tư tưởng cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong tương lai của đất nước.”

(Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 13, NXB Chính trị quốc gia, 2001, tr. 287).

ĐÚNG SAI
a) Theo tư liệu, mục tiêu lớn nhất của cuộc kháng chiến chống Pháp là bảo vệ nền độc lập và thống nhất của Tổ quốc.
b) Việc “bài trừ các tàn tích phong kiến và nửa phong kiến” được tư liệu xác định là nhiệm vụ thuộc về mặt trận quân sự trong kháng chiến chống Pháp.
c) Tư liệu cho thấy cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945-1954 vừa kháng chiến, vừa xây dựng chế độ mới.
d) Nhiệm vụ chuẩn bị cơ sở vật chất, chính trị và tư tưởng cho chủ nghĩa xã hội chỉ bắt đầu sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc.

Câu 5. Cho đoạn tư liệu sau:


“Hậu phương là một nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh. Nếu không có hậu phương vững mạnh bảo đảm sự chi viện thường xuyên về lực lượng, của cải và tinh thần chính trị cho tiền tuyển thì không có một quân đội nào có thể giành thắng lợi. Một hậu phương mạnh là một hậu phương có chế độ chính trị, kinh tế , văn hóa, xã hội tiên tiên. Vì vậy, xây dựng chế độ mới là xây dựng hậu phương kháng chiến. Đó là một yêu cầu khách quan của sự nghiệp kháng chiến của dân tộc”.

(Lê Mậu Hãn (Chủ biên), Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập III,
NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr. 130)

ĐÚNG SAI
a) Nhận thức được tầm quan trọng của hậu phương kháng chiến, từ ngày 19 – 12 – 1946, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ đạo xây dựng chế độ mới trên các lĩnh vực như chính trị, quân sự, kinh tế và y tế để phục vụ cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954).
b) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (2 – 1951) là một trong những thắng lợi chính trị nổi bật trong việc xây dựng hậu phương kháng chiến.
c) Xây dựng hậu phương kháng chiến là một trong những việc làm quan trọng, nhằm thực hiện đúng chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề “Kháng chiến phải đi đôi với kiến quốc”
d) Hậu phương và tiền tuyến trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954) là hai yếu tố được Đảng phân biệt rạch ròi về không gian, vai trò, trong đó, hậu phương là nhân tố quyết định đưa đến những thắng lợi quân sự trên mặt trận tiền tuyến.