1.1. Hoạch định đường lối cách mạng đúng đắn, kịp thời
– Tại Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5 năm 1941), đồng chí Trường Chinh cùng Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định đường lối cách mạng phù hợp với bối cảnh lịch sử. Đồng chí là người trực tiếp khởi thảo Nghị quyết Trung ương 8 – văn kiện mang tính chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Hội nghị chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, thành lập Mặt trận Việt Minh để tập hợp lực lượng toàn dân, tạo nền tảng chính trị rộng rãi cho cuộc đấu tranh giành độc lập.
– Sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp (ngày 9 tháng 3 năm 1945), đồng chí Trường Chinh chủ trì Hội nghị Thường vụ Trung ương và soạn thảo Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (ngày 12 tháng 3 năm 1945). Chỉ thị xác định kẻ thù chính lúc này là phát xít Nhật, phát động cao trào kháng Nhật cứu nước làm tiền đề tiến tới tổng khởi nghĩa. Hình thức đấu tranh được đề ra đa dạng: từ bất hợp tác, bãi công, bãi thị đến biểu tình, thị uy, vũ trang, du kích – sẵn sàng chuyển sang tổng khởi nghĩa khi thời cơ chín muồi.
– Khi Nhật đầu hàng Đồng minh, đồng chí cùng Trung ương Đảng kịp thời nắm bắt thời cơ lịch sử, quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong cả nước. Tháng 8 năm 1945, đồng chí phụ trách Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, ra Quân lệnh số 1 – lệnh khởi nghĩa – và có những đóng góp xuất sắc vào thành công của Cách mạng Tháng Tám.
1.2. Trực tiếp tham gia lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng đi đến thắng lợi
– Trên cương vị Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng chí Trường Chinh trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng, giữ vững sự lãnh đạo thống nhất của Đảng trong giai đoạn mang tính quyết định.
– Ngay sau cuộc đảo chính của Nhật (9/3/1945), 15-3-1945, Tổng Bí thư Trường Chinh trực tiếp chỉ đạo Mặt trận Việt Minh phát động Cao trào kháng Nhật, cứu nước, thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ trên phạm vi cả nước.
– Đồng chí trực tiếp chỉ đạo tổ chức và xây dựng lực lượng cách mạng gồm lực lượng chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang, tạo nền tảng vững chắc cho cuộc Tổng khởi nghĩa. Từ ngày 15 đến 20 tháng 4 năm 1945, tại Hiệp Hòa (Bắc Giang), đồng chí triệu tập và chủ trì Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ – hội nghị quân sự quan trọng đầu tiên của Đảng, nhằm giải quyết nhiệm vụ quân sự, nhiệm vụ cấp bách nhất lúc bấy giờ.
– Thực hiện Chỉ thị của chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân đại hội để quyết định phát động tổng khởi nghĩa, thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng.
– Trong quá trình Tổng khởi nghĩa, đồng chí trực tiếp chỉ đạo các trung tâm lớn như Hà Nội, Huế, Sài Gòn, góp phần quyết định làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
2.1. Đóng góp trong việc hoạch định đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp (1945–1954)
– Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược. Trên cương vị Tổng Bí thư, đồng chí Trường Chinh đã tham gia vào quá trình xây dựng và phát triển đường lối kháng chiến của Đảng.
– Ông có vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện tư tưởng kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực cánh sinh – huy động sức mạnh của toàn dân tộc làm nòng cốt.
– Tháng 9 năm 1947, ông cho ra đời tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi”. Trong đó, Tổng Bí thư Trường Chinh đã đề ra các luận chứng và phát triển toàn bộ đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ của Đảng, khẳng định con đường tất thắng của cuộc kháng chiến. Tác phẩm nhanh chóng trở thành một trong những văn kiện lý luận quan trọng, định hướng cho toàn bộ cuộc kháng chiến.
2.2. Chỉ đạo xây dựng hậu phương và phát huy sức mạnh toàn dân
– Đồng chí Trường Chinh đóng vai trò nòng cốt trong việc xây dựng căn cứ địa Việt Bắc trở thành trung tâm chính trị, kinh tế và quân sự của cuộc kháng chiến.
– Ông trực tiếp chỉ đạo phát triển nền kinh tế kháng chiến, tài chính, văn hóa – giáo dục, bảo đảm nền tảng vững chắc cho cuộc chiến lâu dài.
– Một trong những đóng góp quan trọng là củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đặc biệt là liên minh công – nông. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, ông giữ vai trò then chốt trong việc lãnh đạo chính sách ruộng đất, nhằm đáp ứng nguyện vọng của nông dân và làm vững chắc cơ sở xã hội của cách mạng.
– Với cương vị Trưởng ban Cải cách ruộng đất Trung ương, ông trực tiếp chỉ đạo thực hiện chính sách cải cách ruộng đất (1953–1956). Chủ trương này đã làm thay đổi quan hệ ruộng đất ở nông thôn, tăng cường sự gắn bó giữa nông dân với cách mạng, đồng thời tạo điều kiện huy động nhân lực, vật lực phục vụ kháng chiến.
3.1. Đóng góp trong công tác tư tưởng, lý luận và xây dựng Đảng thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954–1975)
– Trường Chinh được xem là một trong những cây đại thụ về lý luận của Đảng. Ông dành nhiều tâm huyết cho việc xây dựng hệ thống tư tưởng, đường lối và phương pháp lãnh đạo, những yếu tố nền tảng quyết định sức mạnh của Đảng qua các giai đoạn cách mạng.
– Năm 1966, ông cho ra đời tác phẩm “Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nhất định thắng lợi”. Trong đó, ông phân tích sâu sắc bản chất cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, khẳng định ý chí kiên cường và sức mạnh của nhân dân Việt Nam. Tác phẩm nhanh chóng trở thành tài liệu quan trọng, định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng trong những năm tháng cam go nhất của cuộc kháng chiến.
– Không chỉ dừng lại ở lý luận, ông còn trực tiếp chỉ đạo công tác tuyên truyền, báo chí, xuất bản. Dưới sự chỉ đạo của ông, hệ thống báo chí cách mạng từ Trung ương đến địa phương được củng cố và phát huy mạnh mẽ, trở thành vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng. Những bài viết của ông trên Tạp chí Cộng sản, báo Nhân Dân thường xuyên xuất hiện, kịp thời giải đáp những vấn đề lý luận phức tạp, động viên tinh thần chiến đấu và lao động sản xuất của nhân dân cả nước.