TIỂU SỬ

Họ và tên khai sinh: Hoàng Văn Xiêm

Họ và tên thường gọi: Hoàng Văn Thái

Bí danh: Mười Khang

Năm sinh: ngày 1 tháng 5 năm 1915

Ngày mất: ngày 2 tháng 7 năm 1986

Quê quán: xã Tây An, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (nay thuộc tỉnh Hưng Yên)

Dân tộc: Kinh                                  Tôn giáo: Không

Ngày vào ĐCSVN: tháng 5 năm 1938

Ủy viên Trung ương Đảng khóa: III, IV, V

Đại biểu Quốc hội khóa: VII

TÓM TẮT QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG

ĐÓNG GÓP CỦA ĐẠI TƯỚNG HOÀNG VĂN THÁI

1.1. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

– Giác ngộ và xây dựng cơ sở cách mạng: Sớm giác ngộ lý tưởng, ông đã khéo léo tập hợp thanh niên thông qua các tổ chức quần chúng ở địa phương (như hội hiếu, hội tương tế, hội thể thao, hội đọc báo…). Sau khi được kết nạp Đảng, ông trực tiếp góp công lớn trong việc xây dựng và phát triển các tổ chức cơ sở Đảng vững mạnh tại quê hương Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (nay là tỉnh Hưng Yên)

Hạt nhân của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (1944): Ông vinh dự là một trong 34 chiến sĩ đầu tiên của Đội. Nhờ tư duy quân sự nhạy bén, ông được giao phụ trách tình báo và kế hoạch tác chiến, trực tiếp tham gia chỉ huy các trận đánh mở màn lịch sử như Phay Khắt, Nà Ngần, góp phần gây dựng tiếng vang và uy tín cho lực lượng vũ trang cách mạng non trẻ.

Đặt nền móng đào tạo cán bộ quân sự: Không chỉ tham gia mở rộng căn cứ địa, xây dựng chính quyền và huấn luyện tự vệ tại Chợ Đồn, Chợ Chu, ông còn là Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Quân chính kháng Nhật (tại Tân Trào). Tại đây, ông trực tiếp phụ trách đào tạo cán bộ cho Việt Nam Giải phóng quân, đặt viên gạch đầu tiên cho hệ thống nhà trường và đào tạo quân sự của Việt Nam sau này.

1.2. Trong Cách mạng tháng Tám năm 1945

– Khi thời cơ khởi nghĩa chín muồi, ông trực tiếp chỉ huy lực lượng Giải phóng quân đánh chiếm và giành chính quyền tại Lục An Châu (13/8/1945). Ngay sau đó, ông tiếp tục chỉ huy quân ta phối hợp cùng quần chúng và lực lượng địa phương tấn công các vị trí đồn trú của quân Nhật, giành chính quyền thắng lợi tại Tuyên Quang (17/8/1945).

– Sau khi khởi nghĩa thành công ở các địa phương, ông cùng đơn vị tiến nhanh về Thủ đô Hà Nội để tham gia củng cố chính quyền cách mạng. Đặc biệt, ông cùng các đội viên Giải phóng quân đã vinh dự được giao trọng trách giữ gìn an ninh trật tự tại Quảng trường Ba Đình trong ngày Lễ Tuyên ngôn Độc lập (02/09/1945), góp phần bảo vệ an toàn tuyệt đối cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và thời khắc khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

2.1. Kiến tạo và tổ chức bộ máy tham mưu – chỉ huy quân đội

Theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, Hoàng Văn Thái được cử làm Tổng Tham mưu trưởng đầu tiên, trực tiếp xây dựng Bộ Tổng Tham mưu trong điều kiện vô cùng khó khăn

– Vượt lên trên những trở ngại ấy, bằng tư duy quân sự nhạy bén và tầm nhìn chiến lược, ông đã bắt tay ngay vào kiến tạo và kiện toàn hệ thống cơ quan tham mưu xuyên suốt từ cấp trung ương đến địa phương. Dưới sự chỉ đạo của ông, bộ máy nhanh chóng được phân định rõ chức năng cho các bộ phận then chốt như tác chiến, tình báo, thông tin liên lạc. Đồng thời, ông trực tiếp thiết lập lề lối làm việc khoa học, bài bản, đòi hỏi sự liên kết chặt chẽ qua các khâu: nắm bắt tình hình, lập kế hoạch, tổ chức thực thi, kiểm tra và báo cáo.

Nhận thức sâu sắc rằng công tác tham mưu không thể chỉ nằm trên giấy, ông thường xuyên cử cán bộ đi sâu sát các đơn vị để bám rễ vào thực tiễn chiến đấu. Những nỗ lực không mệt mỏi và bài bản ấy của Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái đã góp phần quan trọng vào việc thống nhất các lực lượng vũ trang, từng bước chuẩn hóa tổ chức, biên chế và công tác huấn luyện, đặt những viên gạch nền móng đầu tiên vô cùng vững chắc cho sự trưởng thành vĩ đại của quân đội ta sau này.

2.2. Hoạch định chiến lược và kế hoạch quân sự

Khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ (12/1946), ông cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp tham gia phê duyệt kế hoạch tác chiến ở Hà Nội, tổ chức thế trận phòng ngự – tiến công linh hoạt trong đô thị. 

– Từ những kinh nghiệm thực tiễn đúc kết được, ông đã chỉ đạo tổ chức một thế trận phòng ngự kết hợp tiến công vô cùng linh hoạt và sáng tạo ngay trong lòng đô thị. Việc thiết lập thế trận chiến đấu liên hoàn, chia nhỏ và bám trụ từng khu vực tác chiến đã tạo thành một mạng lưới vững chắc nhằm giam chân và tiêu hao tối đa sinh lực địch. Nghệ thuật cầm quân mưu trí này không chỉ bẻ gãy sức mạnh chớp nhoáng của quân đội viễn chinh Pháp, mà còn tạo ra khoảng thời gian vô giá, bảo đảm cho các cơ quan đầu não cùng lực lượng vũ trang của ta thực hiện thành công cuộc rút lui chiến lược lên chiến khu an toàn.

Không dừng lại ở đó, tài năng tham mưu kiệt xuất của ông tiếp tục tỏa sáng rực rỡ trong chiến dịch Việt Bắc Thu – Đông năm 1947. Đứng trước cuộc tấn công vây ráp quy mô lớn của kẻ thù, ông đã nhạy bén tham mưu cho Trung ương Đảng đường lối phát triển chiến tranh nhân dân rộng khắp. Việc chỉ đạo kết hợp nhuần nhuyễn giữa sức mạnh đột phá của lực lượng chủ lực với lối đánh bám nắm địa bàn của dân quân du kích đã giăng ra một “thiên la địa võng”, góp phần đập tan hoàn toàn chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” hòng tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của thực dân Pháp.

2.3. Chỉ đạo tác chiến và tham mưu chiến dịch

– Không chỉ xuất sắc trong việc hoạch định chiến lược tại Tổng hành dinh, đồng chí Hoàng Văn Thái còn là một vị tướng thực tiễn, luôn xông pha nơi tuyến đầu và để lại dấu ấn chỉ huy đậm nét trong hàng loạt chiến dịch lớn. Đỉnh cao thể hiện tài năng cầm quân của ông trong giai đoạn này phải kể đến Chiến dịch Biên giới Thu – Đông năm 1950.

– Đảm nhiệm cùng lúc hai trọng trách: Tổng Tham mưu trưởng kiêm Tham mưu trưởng chiến dịch, ông đã đưa ra những tham mưu chiến lược vô cùng chuẩn xác trong việc lựa chọn mục tiêu, xác định hướng tiến công chủ yếu và đề xuất vận dụng sáng tạo nghệ thuật tác chiến “đánh điểm, diệt viện”. Đặc biệt, chính ông là người đã trực tiếp bám sát trận địa, chỉ huy làm nên thắng lợi vang dội tại trận then chốt Đông Khê, tạo đà phá vỡ toàn bộ tuyến phòng thủ của địch. Phát huy thắng lợi đó, ông tiếp tục tham gia chỉ huy và chỉ đạo thành công nhiều chiến dịch quy mô lớn như: Trung Du, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào…, không ngừng đẩy quân đội viễn chinh Pháp vào thế bị động, sa lầy.

2.4. Giữ vai trò quan trọng trong chiến dịch Điện Biên Phủ

Một trong những đóng góp tiêu biểu nhất của Đại tướng Hoàng Văn Thái chính là tại chiến dịch Điện Biên Phủ (1954). Để chuẩn bị lực lượng cho trận quyết chiến chiến lược này, ông đã dốc toàn lực chỉ đạo chấn chỉnh tổ chức, biên chế, quyết định thành lập một số đơn vị binh chủng kỹ thuật mới; đồng thời tăng cường đầu tư trang bị và nâng cao chất lượng huấn luyện, đưa bộ đội ta tiến lên chính quy.

– Trên cương vị Tham mưu trưởng chiến dịch, ông cùng Bộ chỉ huy đi trinh sát thực địa để xây dựng kế hoạch tác chiến chi tiết. Xuyên suốt quá trình chuẩn bị và chiến đấu, đồng chí đã đưa ra những tham mưu sắc bén, mang tính quyết định về cách bố trí và sử dụng lực lượng, lựa chọn hướng đột phá, thay đổi phương châm tác chiến, cũng như tổ chức hiệp đồng chặt chẽ giữa bộ binh và pháo binh. Tầm nhìn bao quát của ông còn thể hiện qua việc chỉ đạo phối hợp tác chiến nhịp nhàng giữa các chiến trường trên cả nước và đảm bảo thông suốt mạch máu hậu cần, kỹ thuật. Những cống hiến thầm lặng nhưng cốt lõi đó của Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái đã góp phần to lớn làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược.

3.1. Xây dựng lực lượng ở hậu phương và trực tiếp lãnh đạo chiến lược tại chiến trường miền Nam

– Bước vào thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, dấu ấn lịch sử của Đại tướng Hoàng Văn Thái trải dài từ công cuộc chuẩn bị lực lượng nơi hậu phương lớn, cho đến những năm tháng trực tiếp xông pha nơi tiền tuyến vĩ đại. Nhận thức sâu sắc sứ mệnh của dân tộc sau ngày miền Bắc được giải phóng, từ năm 1958, trên cương vị Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn, ông đã dốc toàn lực để kiến tạo một đạo quân chính quy, hiện đại. Bằng việc chuẩn hóa toàn diện hệ thống các nhà trường và không ngừng nâng tầm công tác huấn luyện chiến đấu, ông đã góp phần đúc nên một “thanh gươm” sắc bén, chuẩn bị sẵn sàng nguồn lực cốt lõi cho cuộc đụng đầu lịch sử với đế quốc Mỹ.

Khi chiến tranh leo thang đến giai đoạn khốc liệt nhất tháng 8 năm 1966, ông bí mật vượt Trường Sơn vào trực tiếp lãnh đạo tại chiến trường miền Nam. Ông liên tiếp được Đảng tin cậy giao phó những trọng trách cốt cán như Tư lệnh kiêm Chính ủy Khu V (1966), và đặc biệt là Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam kiêm Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam (1967). Hoàng Văn Thái đã trực tiếp chèo lái, hoạch định đường lối tác chiến chiến lược, đưa cách mạng miền Nam vượt qua những khúc quanh cam go nhất của lịch sử.

3.2. Tham mưu và chỉ huy các chiến dịch lớn

– Trên cương vị Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, dấu ấn cầm quân của đồng chí Hoàng Văn Thái in đậm qua những đòn tiến công làm rung chuyển hệ thống phòng ngự của địch. Bằng nhãn quan chiến thuật sắc bén và bản lĩnh kiên cường, ông đã trực tiếp tham mưu và chỉ huy lực lượng vũ trang giải phóng tiến hành thắng lợi hàng loạt chiến dịch lịch sử, tiêu biểu như: Chiến dịch Lộc Ninh (1967), cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), Chiến dịch Tây Ninh (1968) và đỉnh cao là cuộc Tiến công chiến lược năm 1972. Dưới sự dẫn dắt của ông, quân và dân ta đã từng bước bẻ gãy, đánh bại hầu hết các chiến lược, chiến thuật quân sự tân tiến nhất của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

– Những thắng lợi mang tính bước ngoặt này không chỉ làm đứt gãy ý chí xâm lược của kẻ thù, mà còn mở ra một cục diện hoàn toàn mới, tạo đà xoay chuyển vĩ đại cả thế và lực trên chiến trường, hun đúc tiền đề vững chắc cho công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam.

 3.3. Góp phần tạo nên thắng lợi Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975

– Chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, từ năm 1974, ông được Trung ương gọi trở lại Tổng hành dinh, đảm nhiệm cương vị Phó Tổng Tham mưu trưởng thứ nhất. Tại đây, ông gánh vác cùng lúc hai sứ mệnh khổng lồ: chỉ đạo tác chiến chiến lược và điều phối chi viện chiến trường.

– Trong công tác tham mưu tác chiến, ông cùng Tổ trung tâm Bộ Tổng Tham mưu đã dồn trọn tâm huyết, trí tuệ để nghiên cứu, bám sát tình hình và hoàn thiện kế hoạch giải phóng miền Nam (từ dự thảo lần thứ tư vào tháng 5/1974 đến bản dự thảo thứ tám vào tháng 12/1974). Bằng những luận chứng quân sự sắc sảo của ông và tập thể, ngày 08/01/1975, Bộ Chính trị đã chính thức thông qua Kế hoạch chiến lược lịch sử, thắp lên quyết tâm: “Nếu thời cơ đến… lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975”. Đặc biệt, khi Đại tướng Văn Tiến Dũng trực tiếp vào Nam chỉ huy chiến dịch, chính đồng chí Hoàng Văn Thái là người ở lại vững vàng nơi “đầu não” Tổng hành dinh. Ông đã quán xuyến, điều hành toàn bộ công việc của Bộ Tổng Tham mưu, bảo đảm mạch máu chỉ đạo từ Trung ương tới các chiến trường luôn thông suốt, nhạy bén và kịp thời nhất.

– Song song với nhiệm vụ tác chiến, trên cương vị Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng chi viện (từ tháng 4/1974), ông trở thành “người tổng quản” dốc toàn lực hậu thuẫn cho tiền tuyến. Phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, ông đã tổ chức huy động và chi viện một khối lượng khổng lồ về quân số, vũ khí và vật chất hậu cần. Sự vận hành nhịp nhàng, thần tốc của cỗ máy chi viện dưới bàn tay chỉ đạo của ông, đặc biệt là trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đã tiếp thêm sức mạnh vô song cho các cánh quân, góp phần trực tiếp đưa cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975 đến ngày toàn thắng, non sông trọn vẹn thu về một mối.

TƯ LIỆU HÌNH ẢNH

Đồng chí Hoàng Văn Thái báo cáo tình hình chiến trường miền Nam với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. 

Nguồn: Báo Quân dân đội Nhân dân 

Từ phải sang trái: Hoàng Văn Thái, Trần Độ, Trần Văn Trà, Nguyễn Thị Định

Ảnh: Báo Quân đội Nhân dân.

Đồng chí Hoàng Văn Thái (người ngồi, thứ tư từ trái sang) và các cán bộ Trung ương Cục miền Nam trong chiến trường năm 1967.

Ảnh tư liệu, Nguồn: Báo quân đội nhân dân

Gia đình tướng Hoàng Văn Thái năm 1960. Hàng trên từ phải sang: Hoàng Quốc Trinh, Hoàng Minh Tuyết, Hoàng Minh Nguyệt, Hoàng Minh Châu. Hàng dưới từ phải: Hoàng Quốc Hùng, Tướng Hoàng Văn Thái , Bà Đàm Thị Loan, Hoàng Minh Phượng (Ảnh tư liệu – VietnamNet)

Đồng chí Hoàng Văn Thái (người cầm cờ) tại lễ thành lập đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân (12/1944)

Nguồn: Báo Quân đội nhân dân Việt Nam

Thiếu tướng Hoàng Văn Thái (người đứng cạnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp) cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Quốc hội tới thăm hỏi, động viên các cán bộ, chiến sĩ lập thành tích xuất sắc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954

Nguồn: Bảo tàng lịch sử Việt Nam

Khu tưởng niệm Đại tướng Hoàng Văn Thái tại xã Tân An, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (nay là tỉnh Hưng Yên) (xây dựng năm 2010)

Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Việt Nam 

Đại tướng Hoàng Văn Thái trao đổi với các đại biểu tại Hội nghị kháng chiến toàn quốc năm 1950.

Nguồn: Báo Quân đội Nhân dân Việt Nam

Trung tướng Hoàng Văn Thái (thứ 2 từ trái qua) tại lễ phong quân hàm cấp tướng năm 1959.

Nguồn ảnh: Báo Quân đội Nhân dân Việt Nam

TƯ LIỆU VIDEO

Câu hỏi củng cố

Câu 1. Trong kháng chiến chống Mỹ, Đại tướng Hoàng Văn Thái được biết đến với bí danh




Câu 2. Ngày 7/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra chỉ thị thành lập cơ quan nào của lực lượng vũ trang do cho đồng chí Hoàng Văn Thái đứng đầu?




Câu 3. Nhằm chi viện kịp thời cho chiến trường miền Nam chống lại cuộc gây hấn của quân Pháp ngày 23/9/1945, đồng chí Hoàng Văn Thái đã chỉ đạo Bộ Tổng Tham mưu thực hiện




Câu 4. Cho đoạn tư liệu sau:


“Trong Chiến dịch Biên giới (năm 1950), trên cương vị Tổng Tham mưu trưởng kiêm Tham mưu trưởng chiến dịch, trực tiếp chỉ huy trận đánh then chốt đột phá Đông Khê trên Đường số 4, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái đã tham mưu với Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch chọn đúng mục tiêu, hướng, khu vực tiến công chủ yếu; chỉ đạo tập trung hỏa lực trong các trận then chốt; vận dụng phương châm “đánh điểm, diệt viện”; thực hiện chủ trương mở từ những đợt hoạt động, những chiến dịch nhỏ, tiến tới mở chiến dịch với quy mô lớn, đánh tập trung chính quy, hiệp đồng binh chủng. Chiến dịch Biên giới kết thúc thắng lợi đánh dấu bước phát triển về công tác tham mưu, nghệ thuật tổ chức, chỉ đạo chiến dịch của Quân đội ta”.

(Sơn Bình, Văn Bình, Dấu ấn hai vị tướng ở cơ quan tham mưu chiến lược – Bài 1: Đồng chí Hoàng Văn Thái – Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam đầu tiên, Báo Quân đội Nhân dân, 2025)

ĐÚNG SAI
a) Thiếu tướng Hoàng Văn Thái đã đóng vai trò quan trọng trong việc giúp Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch chọn đúng mục tiêu, hướng và khu vực tiến công chủ yếu.
b) Trận đánh then chốt đột phá trên Đường số 4 do Thiếu tướng Hoàng Văn Thái trực tiếp chỉ huy là trận đánh vào cứ điểm Thất Khê.
c) Trong chiến dịch Biên giới, Quân đội ta đã có sự chuyển biến chiến thuật: từ việc đánh nhỏ lẻ tiến lên đánh tập trung chính quy và hiệp đồng binh chủng.
d) Thắng lợi của Chiến dịch Biên giới 1950 chủ yếu đánh dấu bước phát triển về vũ khí trang bị, chưa cho thấy sự tiến bộ trong công tác tham mưu và nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch.

Câu 5. Cho đoạn tư liệu sau:


“Thắng lợi to lớn của cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân năm 1968 đã làm nhụt ý chí xâm lược của quân Mỹ và làm đảo lộn thế chiến lược của chúng trên chiến trường. Đêm 31 – 3 – 1968, Tổng thống Mỹ B. Johnson buộc phải đơn phương tuyên bố chấm dứt vai trò chiến đấu trực tiếp của quân đội Mỹ trên chiến trường miền Nam và trao trả trách nhiệm cho quân đội Sài Gòn, ngừng toàn bộ hành động không quân và hải quân chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chấm dứt ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra và sẵn sàng cử đại diện đàm phán với phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”.

(Nguyễn Đình Luân, Bài học kết hợp “vừa đánh, vừa đàm” trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Tạp chí Cộng sản, số ra ngày 13/3/2023)

ĐÚNG SAI
a) Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 làm đảo lộn thế chiến lược của Mỹ trên chiến trường, buộc Mỹ phải tuyên bố “Mỹ hóa” trở lại chiến tranh xâm lược.
b) Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 là minh chứng cho nghệ thuật dùng thực lực quân sự để tạo thế mạnh trên mặt trận ngoại giao của cách mạng Việt Nam.
c) Những điều chỉnh của Tổng thống Johnson sau sự kiện Xuân Mậu Thân năm 1968 chứng tỏ Mỹ đã thừa nhận sự thất bại của chiến lược Chiến tranh cục bộ ở miền Nam Việt Nam.
d) Sự kiện đêm 31 – 3 – 1968 đánh dấu việc Mỹ bắt đầu xuống thang chiến tranh thông qua việc ngừng ném bom toàn miền Bắc Việt Nam.