Họ và tên khai sinh: Võ Giáp
Họ và tên thường gọi (bí danh): Văn
Năm sinh: ngày 25 tháng 8 năm 1911
Ngày mất: ngày 4 tháng 10 năm 2013
Quê quán: xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (nay xã Lệ Thủy, tỉnh Quảng Trị)
Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không
Ngày vào Đảng cộng sản Việt Nam: tháng 6 năm 1940
Ủy viên Trung ương Đảng khóa: II, III, IV, V, VI
Đại biểu Quốc hội khóa: từ I đến khóa VII.
TÓM TẮT QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG
ĐÓNG GÓP CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP
1.1. Đóng góp trong xây dựng Mặt trận Việt Minh và căn cứ địa cách mạng
* Góp phần hình thành và củng cố Mặt trận Việt Minh
– Từ cuối năm 1940, đồng chí Võ Nguyên Giáp sang hoạt động ở Trung Quốc, trực tiếp làm việc với Nguyễn Ái Quốc.

– Tham gia góp ý, chuẩn bị cho việc thành lập Mặt trận Việt Minh – hình thức mặt trận thống nhất rộng rãi, tập hợp toàn dân đánh Pháp – Nhật.
– Soạn thảo, giảng dạy lớp huấn luyện cán bộ đầu tiên ở Tịnh Tây, giúp đào tạo đội ngũ nòng cốt cho phong trào Việt Minh.
– Viết tài liệu tuyên truyền như Việt Minh ngũ tự kinh, dịch sang tiếng Tày, Dao để Việt Minh nhanh chóng lan rộng trong quần chúng.
* Trực tiếp xây dựng căn cứ địa Cao Bằng – Việt Bắc
– Về hoạt động ở Cao Bằng từ năm 1941, đồng chí Võ Nguyên Giáp tổ chức mở hội, huấn luyện quần chúng, phát triển các đoàn thể cứu quốc.
– Tổ chức hệ thống tuyên truyền, viết báo Việt Nam độc lập.
– Tổng kết kinh nghiệm xây dựng phong trào và biên soạn Kinh nghiệm Việt Minh ở Việt Bắc cùng tài liệu quan trọng để mở rộng phong trào trên toàn quốc.
* Mở con đường chiến lược “Nam tiến” – nối liền các căn cứ
– Chỉ huy 19 đội xung phong Nam tiến từ Cao Bằng xuống Bắc Kạn, rồi liên kết với lực lượng Bắc Sơn – Võ Nhai.
– Nhờ đó, căn cứ địa Việt Bắc được liên thông, tạo thành khu vực an toàn rộng lớn cho Trung ương và lãnh tụ hoạt động.
– Đây là một trong những đóng góp chiến lược giúp Việt Minh có hậu phương vững chắc trước khi khởi nghĩa.
* Tham gia xây dựng Khu giải phóng (6-1945)
– Được Hồ Chí Minh giao dự thảo nghị quyết thành lập Khu giải phóng.
– Là Ủy viên Thường trực Ủy ban Chỉ huy Khu giải phóng, phụ trách quân sự.
– Khu giải phóng trở thành “hình thái chính quyền cách mạng đầu tiên”, tạo thế và lực trực tiếp cho Tổng khởi nghĩa.
1.2. Đóng góp trong xây dựng lực lượng vũ trang – tiền đề cho Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945
* Xây dựng lực lượng vũ trang nòng cốt
– Từ 1940, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã chú trọng xây dựng các đội vũ trang, hỗ trợ Cứu quốc quân.
– Quan tâm sản xuất vũ khí, tổ chức các cơ sở chế tạo tạc đạn ở Cao Bằng (như “Lò rèn Lô cốt đỏ”).
* Chỉ đạo tổ chức lực lượng vũ trang tập trung – Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân
– Cuối 1944, khi Liên Tỉnh ủy Cao – Bắc – Lạng định phát động chiến tranh du kích, Võ Nguyên Giáp đã họp và báo cáo với Hồ Chí Minh.
– Ngày 22/12/1944, đồng chí Võ Nguyên Giáp được giao thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân – tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
– Đội quân này lần lượt thắng Phai Khắt, Nà Ngần, tạo thanh thế lớn cho cách mạng.
*Tham dự Hội nghị quân sự Bắc Kỳ (4-1945)
– Cùng Trung ương quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam Giải phóng quân.
– Chỉ đạo xây dựng 7 chiến khu trong cả nước.
– Đây là bước chuẩn bị vũ trang quan trọng để tiến tới Tổng khởi nghĩa.
1.3. Đóng góp trực tiếp trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945
* Chỉ huy lực lượng vũ trang tiến vào các vị trí chiến lược
– Tổ chức lực lượng Giải phóng quân áp sát Hà Nội, giải phóng Thái Nguyên, Tuyên Quang, mở đường cho khởi nghĩa.
* Trực tiếp chỉ huy quân sự tại Tân Trào
– Tại Quốc dân Đại hội Tân Trào (16-8-1945), Võ Nguyên Giáp được giao nhiệm vụ Chỉ huy trưởng Quân giải phóng.
– Ngày 16–17/8/1945, ra lệnh tiến quân, bảo đảm sức mạnh quân sự cho cuộc tổng khởi nghĩa.
* Góp phần quyết định vào thắng lợi nhanh gọn của Cách mạng Tháng Tám
– Nhờ lực lượng vũ trang do đồng chí Võ Nguyên Giáp xây dựng và chỉ huy, phong trào khởi nghĩa ở Hà Nội và các tỉnh giành thắng lợi chỉ trong vòng nửa tháng.
– Vai trò của ông được đánh giá là nhân tố quân sự hàng đầu đưa cuộc khởi nghĩa đến thắng lợi.
Võ Nguyên Giáp trực tiếp tham gia lãnh đạo với tư cách là Tư lệnh chiến dịch – Bí thư Đảng ủy trong kháng chiến chống Pháp.

2.1. Xây dựng và chỉ huy lực lượng vũ trang
– Võ Nguyên Giáp là người trực tiếp xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam từ 34 chiến sĩ ban đầu (Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân) thành một quân đội chính quy, quy mô hàng vạn người vào đầu thập niên 1950.
– Ông chỉ đạo hình thành ba thứ quân: bộ đội chủ lực – bộ đội địa phương – dân quân du kích, tạo thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp.
– Tổ chức huấn luyện cán bộ, nâng cao chất lượng chiến đấu; xây dựng hệ thống chỉ huy, kỷ luật, trang bị và hậu cần phù hợp với điều kiện kháng chiến.
* Ý nghĩa
– Tạo nền tảng vững chắc cho một lực lượng quân sự đủ sức đối đầu với đội quân nhà nghề của Pháp.
– Giúp quân đội ta phát triển từ tự vệ vũ trang sang quân đội chính quy có khả năng mở các chiến dịch lớn.
– Hình thành thế trận toàn dân đánh giặc – yếu tố quyết định kéo dài và thắng lợi của kháng chiến.
2.2. Quyết định đường lối quân sự
– Là kiến trúc sư quan trọng trong việc xác lập đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân – toàn diện – trường kỳ.
– Là người đề xuất nhiều phương châm chiến lược:
“Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu”.
“Cơ động – linh hoạt – bất ngờ”.
“Đánh chắc, tiến chắc” – phù hợp điều kiện thực tế của quân đội ta.
*Ý nghĩa
– Định hướng toàn bộ nghệ thuật quân sự Việt Nam thời kỳ chống Pháp.
– Là cơ sở để chuyển từ thế phòng ngự, cầm cự sang thế tiến công chiến lược.
– Góp phần phá sản các kế hoạch quân sự của Pháp như “đánh nhanh thắng nhanh”, “bình định”, “dồn quân”, buộc Pháp ngày càng sa lầy.
2.3. Chỉ huy các chiến dịch then chốt
Võ Nguyên Giáp là Tổng Tư lệnh chỉ huy trực tiếp các chiến dịch quan trọng:
– Chiến dịch Việt Bắc 1947: Đập tan cuộc tấn công chiến lược của Pháp, bảo vệ căn cứ địa và cơ quan đầu não kháng chiến.
– Chiến dịch Biên Giới 1950: Giải phóng đường biên, mở ra bước ngoặt chiến lược, đưa quân đội ta sang thế chủ động tiến công.
– Chiến dịch Tây Bắc 1952 – Thượng Lào: Mở rộng vùng giải phóng, phân hóa lực lượng địch.
– Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954: Quyết định chuyển phương châm từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”; tổ chức chiến dịch quy mô lớn nhất trong lịch sử kháng chiến, tiêu diệt tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của Pháp.
*Ý nghĩa
– Các chiến dịch ông chỉ huy lần lượt phá vỡ từng bước ưu thế của Pháp, làm thay đổi toàn diện cục diện chiến tranh.
– Chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ kết thúc cuộc kháng chiến mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
– Khẳng định tài năng chỉ huy chiến dịch tầm chiến lược, với sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bộ binh – pháo binh – công binh – hậu cần trong điều kiện vô cùng khó khăn.
3.1. Tham gia hoạch định đường lối, chiến lược cách mạng miền Nam
– Võ Nguyên Giáp là một trong những nhân vật chủ chốt tham gia xây dựng Nghị quyết Trung ương 15 (1959) – xác định con đường kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang để giải phóng miền Nam.
– Góp phần định hình chiến lược cách mạng: từng bước tiến lên chiến tranh cách mạng, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
3.2. Tổng Tư lệnh – chỉ đạo chiến tranh trên phạm vi cả nước
– Trên cương vị Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng Tư lệnh, ông trực tiếp chỉ đạo quân dân hai miền đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ:
- 1965–1967: Đánh bại “chiến tranh cục bộ” (phản công mùa khô).
- 1969–1973: Làm phá sản “Việt Nam hóa chiến tranh”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và trung tướng Song Hào, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam quan sát Đại đội 6, Trung đoàn 233, Đoàn Cao xạ Đống Đa huấn luyện vào Tết Mậu Thân 1968. Ảnh: Sách ảnh “Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp”.
– Gắn với các sự kiện tiêu biểu:
- Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào (1971) đập tan cuộc hành quân Lam Sơn 719.
- Tiến công chiến lược 1972 làm lung lay chiến lược của Mỹ.
- “Điện Biên Phủ trên không” (12/1972) đánh bại cuộc tập kích B-52, buộc Mỹ ký Hiệp định Paris.
3.3. Chủ động tạo lập và nắm bắt thời cơ chiến lược (1975)
– Võ Nguyên Giáp cùng Bộ Chính trị đánh giá đúng so sánh lực lượng, nhận định thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam đã chín muồi sau thắng lợi 1974–đầu 1975.
– Chủ động tạo thời cơ thông qua các đòn tiến công chiến lược:
- Mở đầu bằng Chiến dịch Tây Nguyên (3/1975) tạo bước đột phá làm tan rã hệ thống phòng thủ của đối phương.
- Nhanh chóng phát triển sang Huế – Đà Nẵng làm thay đổi cục diện chiến tranh theo hướng sụp đổ dây chuyền.
– Khai thác triệt để thời cơ bằng quyết định chiến lược kịp thời:
- Chỉ đạo chuyển từ kế hoạch giải phóng trong 2 năm sang giải phóng ngay trong năm 1975.
- Tập trung lực lượng mở Chiến dịch Hồ Chí Minh, kết thúc chiến tranh trong thời gian ngắn.
a. Bối cảnh lịch sử
– Tháng 3/1947, Chính phủ Pháp cử Bô-la-e sang làm cao uỷ Pháp ở Đông Dương, thay cho Đác-giăng-li ơ. Bô-la-e vạch ra kế hoạch tiến công Việt Bắc.
– Âm mưu: xoá bỏ căn cứ địa, tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến và quân chủ lực, triệt đường liên lạc quốc tế; tiến tới thành lập chính phủ bù nhìn toàn quốc và nhanh chóng kết thúc chiến tranh.
– Ngày 7/10/1947, Pháp đã huy động 12.000 quân, gồm cả không quân, lục quân, và thuỷ quân với hầu hết máy bay có ở Đông Dương chia thành ba cánh tiến công lên Việt Bắc.
* Chiến dịch Việt Bắc
– Trung ương Đảng ra chỉ thị: “phải phá tan cuộc tiến công mùa đông của giặc Pháp”.
– Diễn biến:
+ Bao vây tiến công địch ở Bắc Kạn, Chợ Mới, Chợ Đồn, Chợ Rã, buộc Pháp phải rút khỏi Chợ Đồn, Chợ Rã (cuối tháng 11/1947).
+ Ở mặt trận hướng đông: chặn đánh địch trên đường số 4, tiêu biểu là ở đèo Bông Lau (30/10/1947).
+ Ở hướng Tây: phục kích, đánh địch trên sông Lô, tiêu biểu là trận Đoan Hùng, Khe Lau, bắn chìm nhiều tàu chiến, tiêu diệt hàng trăm tên địch.
– Kết quả, ý nghĩa:
+ Sau 75 ngày đêm chiến đấu, buộc đại bộ phận quân Pháp phải rút chạy khỏi Việt Bắc (ngày 19/12/1947); bảo toàn được cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến; bộ đội chủ lực thêm trưởng thành.
+ Loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 quân địch; bắn rơi 16 máy bay, bắn chìm và cháy 11 tàu chiến, ca nô; phá huỷ nhiều xe quân sự và pháo các loại, thu nhiều vũ khí và hàng chục tấn quân trang quân dụng.
+ Là chiến dịch phản công lớn đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
+ Chứng minh đường lối kháng chiến của Đảng là đúng, chứng minh tính vững chắc của căn cứ địa Việt Bắc.
+ Làm thất bại hoàn toàn chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của giặc Pháp, buộc chúng phải chuyển sang đánh lâu dài.
– Nghệ thuật:
Nghệ thuật “lấy yếu chống mạnh, lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều”,
Chiến thuật: phục kích, tập kích, du kích
Lược đồ Chiến dịch Điện Biên Phủ
Nguồn: Hệ thống tư liệu, văn kiện Đảng
a. Hoàn cảnh lịch sử
– Do kế hoạch Na-va không thực hiện dược theo dự kiến, Pháp quyết định xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, với lực lượng lúc cao nhất lên đến 16200 quân, được bố trí thành một hệ thống phòng thủ chặt chẽ gồm 49 cứ điểm. Cả Pháp và Mĩ đều coi Điện Biên Phủ là pháo đài “bất khả xâm phạm”. Như vậy, từ chỗ không có trong kế hoạch, Điện Biên Phủ đã trở thành trung tâm của kế hoạch Na-va.
b. Chủ trương của Đảng
– Đầu tháng 12/1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, nhằm tiêu diệt lực lượng địch ở đây, giải phóng Tây Bắc, tạo điều kiện giải phóng Bắc Lào; giành thắng lợi quyết định, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh ngoại giao để kết thúc chiến tranh.
c. Diễn biến chiến dịch
– Diễn biến chia làm 3 đợt:
- Đợt I (từ 13/3 đến 17/3/1954): tiến công địch ở phân khu Bắc, tiêu diệt cứ điểm Him Lam, Độc Lập, buộc địch ở Bản Kéo phải ra hàng.
- Đợt II (từ 30/3/ đến 26/4/1954): liên tiếp mở nhiều đợt tiến công đánh vào các vị trí phòng thủ phía đông phân khu Trung tâm, gồm hệ thống phòng thủ trên các dãy đồi A1, D1, C1, E1. Mĩ phải tăng cường viện trợ khẩn cấp cho Pháp ở Đông Dương.
- Đợt III (từ 1/5 đến 7/5/1954): đồng loạt tiến công tiêu diệt các điểm đề kháng của địch. Chiều 7/5/1954, quân ta đánh vào sở chỉ huy của địch, 17 giờ 30 phút ngày 7/5/1954 tướng Đờ Cátxtơri cùng toàn bộ Ban Tham mưu của địch bị bắt.
d. Kết quả, ý nghĩa
– Trong đông – xuân 1953 – 1954, loại khỏi vòng chiến đấu 128.200 quân địch, thu 19.000 súng, bắn rơi và phá huỷ 162 máy bay, giải phóng nhiều vùng rộng lớn trong cả nước. Riêng tại mặt trận Điện Biên Phủ, loại khỏi vòng chiến đấu 16.200 địch, bắn rơi và phá huỷ 62 máy bay, thu toàn bộ vũ khí và đồ dùng quân sự.
– Thắng lợi của cuộc tiến công Đông – Xuân 1953 – 1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ đã đập tan hoàn toàn kế hoạch Nava, giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh, tạo cơ sở thực lực về quân sự cho cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Giơnevơ, kết thúc cuộc kháng chiến.
– Nghệ thuật quân sự:
- Phương châm tác chiến “đánh chắc, tiến chắc”
- Đánh công kiên, đánh vào tập đoàn cứ điểm của địch
- Lấy nhiều địch ít
TƯ LIỆU HÌNH ẢNH
Thầy giáo Võ Nguyên Giáp dạy tại trường Tư thục Thăng Long, Hà Nội, năm 1939
Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi học Luật tại Hà Nội, năm 1934.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp duyệt phương án đánh máy bay B-52 của Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân, năm 1972.
Nguồn: Bảo tàng Phòng không Không quân Việt Nam
Đồng chí Võ Nguyên Giáp duyệt binh lần đầu ở Hà Nội sau khi giành được chính quyền, 26/8/1945. Nguồn: Viện Thông tin Khoa học Xã hội Việt Nam
Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong Lễ mừng công Chiến thắng Điện Biên Phủ tại Mường Phăng, ngày 13-5-1954. Ảnh tư liệu
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và trung tướng Song Hào, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam quan sát Đại đội 6, Trung đoàn 233, Đoàn Cao xạ Đống Đa huấn luyện vào Tết Mậu Thân 1968. Ảnh: Sách ảnh “Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp”.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp trao đổi với Tổ Trung tâm tại phòng làm việc, năm 1975.
Ngày 7/4/1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bí thư Quân ủy Trung ương ra bức mật điện số 1574, lệnh cho các đơn vị “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ từng phút xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”
Đại tướng Võ Nguyên Giáp chụp ảnh cùng cán bộ chủ chốt trước nhà Quân ủy Trung ương, ngày 30/4/1975.
TƯ LIỆU VIDEO
Câu 1: Ngày 22/12/1944, thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã thành lập tổ chức lực lượng vũ trang nào?
Câu 2: Đại tướng Võ Nguyên Giáp đề xuất phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” trong chiến dịch Điện Biên Phủ vì lí do nào sau đây?
Câu 3: Nghệ thuật chỉ đạo tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch Hồ Chí Minh (1975) có điểm khác biệt nào so với chiến dịch Điện Biên Phủ (1954)?
Câu 4. Đọc đoạn tư liệu sau, mỗi ý a,b,c,d học sinh chọn đúng hoặc sai:
“Cuộc kháng chiến chống Pháp đã kéo dài 9 năm, chúng ta đã lần lượt đánh bại các âm mưu và kế hoạch chiến lược của địch. Với chiến thắng Việt Bắc, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn chiến lược đánh nhanh giải quyết nhanh của quân đội Pháp. Tiếp đó quân và dân ta đẩy mạnh chiến tranh du kích, tích cực chống địch càn quét, bình định, lấn chiếm, phá tan âm mưu dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh của chúng… Thắng lợi của chiến dịch Biên giới đã tạo ra một bước ngoặt cơ bản trong cục diện của cuộc kháng chiến. Từ đó ta đã liên tiếp mở nhiều chiến dịch tấn công và phản công với quy mô ngày càng lớn đi đôi với đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích rộng khắp và phong trào nổi dậy của quần chúng ở vùng sau lưng địch. Quân và dân ta đã tiêu diệt được nhiều sinh lực địch và làm sụp đổ từng mảng lớn hệ thống ngụy quyền của chúng, tiến lên giành những thắng lợi quyết định trong chiến cuộc Đông – Xuân 1953 – 1954, mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ”.
(Võ Nguyên Giáp, Chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, NXB Sự thật, Hà Nội, 1979, tr.46 – 47)
| Đúng | Sai | |
|---|---|---|
| A) Đoạn tư liệu phản ánh những thắng lợi quân sự mang tính quyết định của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. | ||
| B) Các chiến thắng quân sự của quân dân ta đã làm phá sản hoàn toàn âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp. | ||
| C) Các thắng lợi quân sự của quân dân ta đã đánh bại chiến lược chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của thực dân Pháp ở Đông Dương. | ||
| D) Trong lịch sử, thắng lợi quân sự luôn đóng vai trò là yếu tố quyết định kết thúc các cuộc xung đột, chiến tranh. |
Câu 5: Đọc đoạn tư liệu sau, mỗi ý a,b,c,d học sinh chọn đúng hoặc sai:
“Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, do lúc chiến tranh bắt đầu, ta đã có lực lượng vũ trang được xây dựng từ trong thời bình nên hình thức nổi lên lúc đầu là tác chiến của lực lượng vũ trang để tiêu diệt quân xâm lược, bảo vệ đất đai của Tổ quốc. Trong trường hợp quân địch vào sâu trong đất nước ta, mở rộng phạm vi chiếm đóng ra nhiều nơi và lập nên chính quyền của chúng ở đây, như tình hình đã xảy ra trong cuộc kháng chiến chống Pháp trước đây thì bên cạnh hình thức tác chiến của lực lượng vũ trang, còn có hình thức vũ trang nổi dậy của quần chúng ở vùng địch tạm chiếm để khôi phục lại quyền làm chủ của mình. Do đó, trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nghệ thuật quân sự của toàn dân đánh giặc là nghệ thuật chỉ đạo hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang đã phát triển ở trình độ cao ngay từ đầu, đồng thời vẫn chỉ đạo hoạt động quân sự của đông đảo quần chúng được tổ chức ngày càng chặt chẽ cầm vũ khí đứng lên đánh giặc”
(Võ Nguyên Giáp, Chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, NXB Sự thật, Hà Nội, 1979, tr 323)
| Đúng | Sai | |
|---|---|---|
| A) Đoạn tư liệu phản ánh vai trò của lực lượng vũ trang trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. | ||
| B) Để tiết kiệm nguồn lực, chỉ cần xây dựng lực lượng vũ trang đủ khả năng tác chiến ở trình độ cao khi đất nước có chiến tranh. | ||
| C) Sức mạnh của quân dân Việt Nam trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi phải có sự kết hợp hoạt động của lực lượng vũ trang và sự nổi dậy của quần chúng | ||
| D) Trong chiến tranh luôn giữ vai trò bảo vệ Tổ quốc, chỉ có lực lượng vũ trang và hoạt động của mới quyết định mọi thắng lợi. |
