Họ và tên khai sinh: Lê Trọng Tố
Họ và tên thường gọi (bí danh): Lê Trọng Tấn (Ba Long)
Năm sinh: ngày 01 tháng 10 năm 1914
Năm mất: ngày 5 tháng 12 năm 1986
Quê quán: xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, Hà Tây (nay Phường Yên Nghĩa, thành phố Hà Nội)
Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không
Ngày vào Đảng cộng sản Việt Nam: tháng 12/1945
Ủy viên Trung ương Đảng khóa: IV, V
Đại biểu Quốc hội khóa: VI, VII
TÓM TẮT QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG
ĐÓNG GÓP CỦA ĐỒNG CHÍ LÊ TRỌNG TẤN
1.1. Xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng
– Phát triển lực lượng từ cơ sở: Sau Cách mạng tháng Tám, đồng chí Lê Trọng Tấn được điều đi Tây Bắc phụ trách một chi đội Tây Tiến. Từ một chi đội Tây Tiến, ông đã xây dựng thành Trung đoàn Sơn La (Trung đoàn 148). Ông trực tiếp lựa chọn và huấn luyện cán bộ nòng cốt từ những chiến sĩ ưu tú và thanh niên dân tộc địa phương. Góp phần phát triển lực lượng vũ trang vùng Tây Bắc.
– Sáng tạo mô hình vũ trang tuyên truyền: Ông thành lập Đội vũ trang tuyên truyền 88 và các đội xung phong (Trung Dũng, Quyết Tiến), tạo bước đột phá cho phong trào cách mạng tại vùng “xứ Thái tự trị” – nơi Pháp dựng nên để mua chuộc đồng bào ta.
– Xây dựng liên minh chiến đấu quốc tế: Chỉ đạo thành lập Đội xung phong Lào – Bắc, đặt nền móng cho tình đoàn kết quân đội hai nước Việt – Lào.
– Chú trọng vai trò chỉ huy cấp cơ sở: Khi làm Đại đoàn trưởng 312, chỉ đạo các chiến dịch lớn: Biên Giới (1950), Hòa Bình (1951), Tây Bắc (1952), Thượng Lào (1953), Điện Biên Phủ (1954)… ông xác định tiểu đội trưởng và trung đội trưởng là “hạt nhân” quyết định thắng lợi trên chiến trường.
1.2. Chỉ huy “bóc vỏ”, tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, bắt sống De Castries
– Trên cương vị Đại đoàn trưởng của Đại đoàn 312 – đơn vị chủ lực mạnh của Bộ Tổng Tư lệnh, đồng chí đã góp phần làm nên các chiến thắng Sông Thao (1949), Biên giới (1950), Trung Du (1951), Hòa Bình, Tây Bắc (1952), Thượng Lào (1953).
– Đại đoàn 312 được lựa chọn là lực lượng tiến công trên hướng chủ yếu vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ – “pháo đài khổng lồ không thể công phá” giữa núi rừng Tây Bắc.
– Ngày 13/3/1954, đồng chí Lê Trọng Tấn chỉ huy Đại đoàn 312 mở màn chiến dịch tiến công và tiêu diệt cụm cứ điểm Him Lam.
– Thực hiện chủ trương xây dựng trận địa tiến công và bao vây, đồng chí Lê Trọng Tấn chỉ đạo Đại đoàn 312 xây dựng hào giao thông kết nối liên hoàn với các đại đoàn khác (308, 316), tạo thành mạng lưới siết chặt tập đoàn cứ điểm, làm cơ sở để công kích các vị trí then chốt (D, E, 105).
– Đại đoàn 312 vận dụng phương pháp “đánh bóc vỏ”, “đánh từng bước”, triệt để thực hiện nguyên tắc “vây, lấn, tấn, triệt, diệt” bằng trận địa chiến hào, chia cắt các cứ điểm, không cho địch có cơ hội hỗ trợ, chi viện cho nhau, khi thời cơ thuận lợi xuất hiện, lập tức tổ chức tiến công, đột phá, đẩy quân địch vào thế bị động phòng ngự.
– Nắm chắc thời cơ tổng công kích, chiều ngày 7/5/1954, một đơn vị của Đại đoàn 312 tiến công vào Sở Chỉ huy, bắt sống tướng De Castries cùng Bộ Tham mưu của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần cùng quân và dân ta làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
2.1. Đổi mới công tác đào tạo và xây dựng các “quả đấm thép” chủ lực
– Để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài, đồng chí Lê Trọng Tấn đặc biệt chú trọng việc gắn lý luận quân sự với thực tiễn chiến trường. Trên cương vị Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Việt Nam (nay là trường Sĩ quan Lục quân 1), ông đã chủ động đúc kết kinh nghiệm thực chiến thành giáo trình, đưa phương án chống Mỹ vào huấn luyện từ sớm và rèn luyện các kỹ năng thiết thực nhất (sức dẻo dai, kỹ thuật chông mìn) để chi viện cán bộ cho miền Nam.
– Đồng thời, ông bộc lộ tầm nhìn chiến lược khi tập trung xây dựng lực lượng đánh lớn. Tại chiến trường miền Nam, ông góp công lớn nâng cấp lực lượng vũ trang thành các trung đoàn, sư đoàn mạnh. Trên cương vị Tổng Tham mưu phó, ông trực tiếp chỉ đạo hình thành và rèn luyện các quân đoàn, binh đoàn chủ lực cơ động của Bộ – những “quả đấm thép” có khả năng tác chiến độc lập. Ông cũng là người đi tiên phong trong việc tổ chức biên chế, trang bị và huấn luyện nghệ thuật tác chiến hiệp đồng quân binh chủng sát với từng đối tượng tác chiến.
2.2. Nghệ thuật chỉ huy tài tình, đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ
– Dấu ấn của Tướng Lê Trọng Tấn (bí danh “Ba Long” tại chiến trường miền Nam) in đậm trên các mặt trận nóng bỏng nhất. Trên cương vị Phó Tư lệnh Miền, ông trực tiếp chỉ huy các chiến dịch Bình Giã, Đồng Xoài đánh gãy chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”; đồng thời làm thất bại các cuộc phản công mùa khô của Mỹ (như Bàu Bàng – Dầu Tiếng, bẻ gãy cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty), góp phần khắc chế chiến lược “Chiến tranh cục bộ”.
– Trong các chiến dịch quy mô lớn, ông nổi bật với khả năng phán đoán nhạy bén và quyết đoán chớp thời cơ. Tiêu biểu tại chiến dịch Đường 9 – Nam Lào (1971), với vai trò Tư lệnh, ông đã đưa ra 4 quyết định lịch sử giúp đánh bại hoàn toàn tham vọng “Việt Nam hóa chiến tranh”. Đến năm 1972, ông tiếp tục làm Tư lệnh hướng chủ yếu Đường 9 – Trị Thiên, chỉ huy tác chiến hiệp đồng binh chủng giải phóng Quảng Trị với những chiến thuật sáng tạo như “săn xe tăng” hay tập kích “nở hoa trong lòng địch”.
2.3. Đỉnh cao tham mưu chiến lược và dấu ấn trong Đại thắng mùa Xuân 1975
– Không chỉ là một vị tướng thực chiến, ông còn là một nhà tham mưu chiến lược xuất sắc. Từ giữa năm 1973 đến tháng 1/1975, Trung tướng Lê Trọng Tấn được cử làm Tổ trưởng Tổ trung tâm, trở thành “kiến trúc sư trưởng” của bản Kế hoạch giải phóng miền Nam. Trải qua 8 lần chỉnh sửa, bản kế hoạch mang tính bước ngoặt này đã chính thức được Bộ Chính trị thông qua vào ngày 8/1/1975.
– Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, sau khi giải phóng Đà Nẵng, ông được giao trọng trách làm Tư lệnh cánh quân phía Đông (gồm Quân đoàn 2 và Quân đoàn 4). Dưới sự chỉ huy của ông, cánh quân này đã hành quân thần tốc theo đường ven biển, đập tan các tuyến phòng ngự của địch, nhanh chóng phối hợp cùng các đại quân tiến vào giải phóng Sài Gòn và cắm lá cờ chiến thắng lên nóc dinh Độc Lập. Thắng lợi của cánh quân phía Đông mang đậm dấu ấn chỉ huy quyết đoán và linh hoạt của đồng chí Lê Trọng Tấn.
3.1. Trực tiếp chỉ huy hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (1978 – 1979)
– Bước vào giai đoạn khó khăn khi đất nước vừa thống nhất, Tướng Lê Trọng Tấn tiếp tục gánh vác trọng trách bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Tại mặt trận biên giới Tây Nam (tháng 12/1978), ông trực tiếp chỉ huy các lực lượng vũ trang đập tan cuộc chiến tranh lấn chiếm của tập đoàn phản động Khmer Đỏ. Ngay sau đó, khi nổ ra cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc (tháng 2/1979), bằng kinh nghiệm điều quân lão luyện, ông đã kịp thời điều chuyển lực lượng chiến lược, hiệp đồng chỉ huy quân và dân 6 tỉnh biên giới đánh lui quân xâm lược. Cùng với việc bảo vệ biên giới đất liền, ông bộc lộ tầm nhìn chiến lược toàn diện khi chủ động chỉ đạo tăng cường chi viện, phòng thủ vững chắc chủ quyền biển đảo, đặc biệt là quần đảo Trường Sa.
3.2. Đặt nền móng đào tạo tướng lĩnh và hiện đại hóa quân đội
– Trở về thời bình, Tướng Lê Trọng Tấn tiếp tục có nhiều đóng góp trên mặt trận giáo dục và kiến tạo đường lối quân sự. Vừa làm Phó Tổng Tham mưu trưởng, ông vừa đảm nhiệm vai trò Viện trưởng Viện Khoa học quân sự kiêm Giám đốc Học viện Quân sự cao cấp (nay là Học viện Quốc phòng). Tại đây, ông đã tập hợp tri thức thực chiến từ các chiến trường để xây dựng giáo trình, đích thân soạn và giảng bài “Tác chiến chiến lược trong chiến tranh tương lai”, góp phần quan trọng đào tạo thế hệ tư lệnh cấp chiến dịch, chiến lược mới chỉ trong thời gian ngắn.
– Trên cương vị Tổng Tham mưu trưởng (từ năm 1978), ông dồn tâm huyết vào việc hiện đại hóa quân đội: chỉ đạo ban hành hệ thống điều lệnh, điều lệ mới, đồng thời chuẩn hóa toàn diện công tác tham mưu, chính trị và hậu cần. Những đóng góp vĩ đại nhất của ông trong giai đoạn này phải kể đến việc trực tiếp tham mưu, đề xuất Trung ương Đảng ban hành các Nghị quyết mang tầm vóc chiến lược, tiêu biểu là Nghị quyết 24/NQTW (1985) về đường lối quân sự thời kỳ mới và chuẩn bị nền tảng nội dung quốc phòng quan trọng cho Đại hội Đảng lần thứ VI.
TƯ LIỆU HÌNH ẢNH
Thiếu tướng Lê Trọng Tấn báo cáo tình hình với Đại tướng Võ Nguyên Giáp trước khi lên đường vào chiến trường miền Nam năm 1966.
Nguồn: Báo Nhân dân
Đồng chí Lê Trọng Tấn (ngoài cùng bên trái) tại Sở Chỉ huy mặt trận Quảng Trị năm 1972. Ảnh: Tư liệu/TTXVN
Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh tại căn cứ Tà Thiết – Lộc Ninh, trong đó Trung tướng Lê Đức Anh là Phó Tư lệnh cùng với các đồng chí Thượng tướng Trần Văn Trà, Trung tướng Đinh Đức Thiện và Trung tướng Lê Trọng Tấn (1975).
Ảnh: TTXVN
Phó Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam Lê Trọng Tấn (ngoài cùng, phải) nghe báo cáo tình hình mặt trận Campuchia (1/1979).
Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát
Đồng chí Lê Trọng Tấn (thứ hai, từ trái sang) và Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng một số cán bộ trao đổi công việc.
Ảnh: Tư liệu/TTXVN
Đại tướng Lê Trọng Tấn để lại những chiến thuật, nghệ thuật quân sự kiệt xuất.
Đại Tướng Lê Trọng Tấn (bên phải) trong chiến dịch Đường 9.
Nguồn: Báo Nhân dân
Ngày 7/4/1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bí thư Quân ủy Trung ương ra bức mật điện số 1574, lệnh cho các đơn vị “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ từng phút xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”
Đại tướng Võ Nguyên Giáp với Tư lệnh Chiến dịch Đường 9-Nam Lào Lê Trọng Tấn (ngoài cùng, bên phải) sau chiến thắng tháng 2/1971.
TƯ LIỆU VIDEO
Câu hỏi củng cố
Câu 1. Với tài năng quân sự kiệt xuất, luôn xuất hiện ở những điểm nóng và đánh những trận quyết định, Đại tướng Lê Trọng Tấn được mệnh danh là
Câu 2. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), Đại đoàn 312 do đồng chí Lê Trọng Tấn chỉ huy đã lập chiến công nổi bật nào trong ngày mở màn chiến dịch (13/3/1954)?
Câu 3. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975), Đại tướng Lê Trọng Tấn là Tư lệnh của cánh quân nào tiến vào Sài Gòn?
Câu 4. Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Với tốc độ “một ngày bằng hai mươi năm”, chỉ trong vòng không đầy 2 tháng (từ 4/3 đến 2/5 1975), phát huy sức mạnh áp đảo cả về quân sự và chính trị, quân và dân ta đã giành được toàn thắng bởi ba trận đánh then chốt: trận mở đầu đánh Buôn Ma Thuột, giải phóng toàn bộ Tây Nguyên; trận thứ hai giải phóng Huế, Đà Nẵng và quét sạch địch ở ven biển miền Trung và trận kết thúc là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng Sài Gòn – Gia Định và các tỉnh còn lại của Nam Bộ”.
(Trần Bá Đệ, Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003, tr.414)
| ĐÚNG | SAI | |
|---|---|---|
| a) Chiến dịch Huế – Đà Nẵng được triển khai ngay trong thời điểm chiến dịch Tây Nguyên còn chưa kết thúc. | ||
| b) “Ba trận đánh then chốt” của quân dân Việt Nam được nhắc đến trong đoạn tư liệu có sự tương đồng về loại hình chiến dịch, địa bàn tấn công và mức độ huy động cao nhất lực lượng. | ||
| c) Điểm tương đồng của chiến dịch Hồ Chí Minh và chiến dịch Điện Biên Phủ là đều tấn công trực diện vào cơ quan đầu não của kẻ thù. | ||
| d) Chiến dịch Tây Nguyên là chiến dịch mở màn thắng lợi cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, là cơ sở để Bộ Chính trị điều chỉnh kế hoạch, quyết định giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975. |
Câu 5. Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Trung Quốc cùng các nước xã hội chủ nghĩa khác đã dành cho nhân dân Việt Nam sự ủng hộ và giúp đỡ toàn diện và quý báu. Nhưng từ năm 1978, quan hệ của Trung Quốc và Việt Nam xấu đi rõ rệt. Trên tuyến biên giới Trung – Việt liên tiếp diễn ra các vụ xung đột. Ngày 17 – 2 – 1979, Trung Quốc đã cho quân đội đồng loạt đánh sang biên giới 6 tỉnh nước ta từ Lai Châu đến Quảng Ninh, gây cho Việt Nam những thiệt hại nặng nề về sinh mạng nhân dân, bộ đội và cơ sở vật chất, di tích lịch sử, văn hoá. Quân dân Việt Nam, được nhân dân thế giới ủng hộ đã chiến đấu anh dũng bảo vệ đất nước…”
(Ngô Đăng Tri, Tiến trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 – 2016), NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2016, tr. 218-219)
| ĐÚNG | SAI | |
|---|---|---|
| a) Từ thực tiễn đấu tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc, cần nâng cao tinh thần cảnh giác và xử lý khéo léo mối quan hệ với các đối tác và đối tượng. | ||
| b) Cuộc chiến đấu bảo vệ biên cương phía Bắc từ năm 1979 kéo dài khoảng một thập kỷ đã khẳng định tính chính nghĩa và quyết tâm bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam. | ||
| c) Cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra đã kéo theo hàng loạt hệ quả nghiêm trọng, trong đó nổi bật là việc Trung Quốc cắt đứt viện trợ dành cho Việt Nam và sự kiện “nạn kiều”. | ||
| d) Giai đoạn đầu của chiến tranh biên giới phía Bắc, mặt trận Vị Xuyên (Hà Giang) trở thành chiến trường trọng điểm, ác liệt bậc nhất, được mệnh danh là “lò vôi thế kỷ”. |
