TIỂU SỬ

Họ và tên khai sinh: Nguyễn Vịnh

Họ và tên thường gọi (bí danh): Thao, Trường, Sáu Vi (nhân dân còn gọi thân thương là “Đại tướng nông dân”)

Năm sinh: ngày 1 tháng 1 năm 1914

Ngày mất: ngày 6 tháng 7 năm 1967

Quê quán:xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên (nay là xã Quảng Điền, TP. Huế)

Dân tộc: Kinh                          Tôn giáo: Không

Ngày vào Đảng cộng sản Việt Nam: tháng 7 năm 1937

Ủy viên Trung ương Đảng khóa: I, II, III (Ủy viên Bộ Chính trị khóa II, III)

Đại biểu Quốc hội khóa: II

TÓM TẮT QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG

ĐÓNG GÓP CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP

Trực tiếp lãnh đạo, trở thành “linh hồn” của mặt trận Bình – Trị – Thiên

Chỉ huy mặt trận Huế: Khi Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (1946), hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông đã trực tiếp chỉ huy cuộc chiến đấu bao vây địch vô cùng quyết liệt suốt 50 ngày đêm tại mặt trận Huế.

– Vực dậy phong trào cách mạng: Trong giai đoạn đầu chống Pháp đầy cam go, trên cương vị Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên kiêm Bí thư Phân khu ủy Bình – Trị – Thiên, ông đã kiên cường bám trụ, lãnh đạo nhân dân vượt qua gian khổ. Với những cống hiến to lớn đó, ông được Đảng bộ và Nhân dân suy tôn là””linh hồn của cuộc kháng chiến ở Bình – Trị – Thiên”.

Góp phần xây dựng, bổ sung và phát triển lý luận chính trị – quân sự của Quân đội

Với tư duy lý luận sắc sảo, cùng Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy, ông đã đánh giá chính xác diễn biến cuộc kháng chiến và thực trạng phát triển của Quân đội ta. Từ đó, ông đúc kết những luận điểm mang tính nền tảng: Công tác chính trị là “linh hồn, mạch sống” của quân đội, đồng thời nhấn mạnh sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Những đóng góp này không chỉ giúp xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng và tổ chức để đáp ứng yêu cầu chuyển sang giai đoạn phản công, mà còn tạo dựng cơ sở vững chắc để Đảng ta tiếp tục bổ sung và hoàn thiện đường lối quân sự trong các giai đoạn cách mạng sau này.

– Năm 1961, do yêu cầu của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp và đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp – nông thôn, Trung ương Đảng quyết định giao đồng chí giữ chức Trưởng ban Công tác nông thôn Trung ương. Vốn xuất thân là nông dân, hiểu tâm tự nguyện vọng của nông dân và am hiểu tình hình nông nghiệp – nông thôn, đứng vững trên lập trường giai cấp, nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Nguyễn Chí Thanh đã sâu sát  phong trào nông dân, chỉ đạo đẩy mạnh cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp, từng bước đưa nông dân miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội.

– Đại tướng là người khởi nguồn phong trào “ Gió Đại Phong” và là người nhân rộng mô hình Đại Phong, phá “xiềng 3 xào”, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp trên miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc chi viện cho miền Nam được chủ tịch Hồ Chí Minh gọi là “Đại tướng nông dân”.

– Trực tiếp chỉ đạo chiến trường, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân: Trên cương vị Bí thư Trung ương Cục, Bí thư Quân ủy Miền và Chính ủy Quân giải phóng, ông luôn đi sâu sát thực tiễn chiến trường khốc liệt. Từ đó, Đại tướng xác định tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt là “kiên quyết, chủ động và liên tục tiến công”. Đồng chí hết sức chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, phát huy nguồn sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân. Ông chỉ đạo phát triển chiến tranh nhân dân, kết hợp sức mạnh của “ba thứ quân”, đánh địch linh hoạt trên cả “ba vùng chiến lược”.

– Xây dựng “quả đấm thép” và sáng tạo nghệ thuật quân sự đặc sắc: Dưới sự lãnh đạo của ông, lực lượng chủ lực được rèn luyện lớn mạnh, làm nên các chiến thắng vang dội (Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài), góp phần đập tan quốc sách “ấp chiến lược” của địch. Từ thực tiễn chiến đấu, Đại tướng đúc kết phương châm tác chiến nổi tiếng “Bám thắt lưng địch mà đánh” và chủ trương xây dựng các “Vành đai diệt Mỹ”. Những sáng tạo độc đáo này đã nhanh chóng lan tỏa, tạo thành cao trào cách mạng rộng khắp trên toàn chiến trường, góp phần quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ngày càng phát triển mạnh mẽ, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Đổi mới công tác tư tưởng và xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân: Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là một nhà chính trị – quân sự lỗi lạc với nhiều đổi mới sáng tạo trong công tác xây dựng Đảng và củng cố Quân đội vững mạnh. Đặt sự quan tâm hàng đầu vào việc bồi dưỡng con người, ông luôn khẳng định cán bộ là cái gốc của mọi phong trào: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Từ nhận thức đó, ông không ngừng rèn luyện đội ngũ đảng viên, khơi dậy tối đa sức mạnh của quần chúng. Bằng nghệ thuật phát triển chiến tranh nhân dân, kết hợp linh hoạt “ba thứ quân” và bủa lưới địch trên cả “ba vùng chiến lược”, Đại tướng đã góp phần then chốt đưa cuộc kháng chiến phát triển mạnh mẽ.

TƯ LIỆU HÌNH ẢNH

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, nói chuyện tại Đại hội Đoàn Thanh niên Lao động Toàn quân lần thứ nhất. (Ảnh: Đoàn Tý/TTXVN)

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị phát biểu tại Lễ Bế mạc Đại hội Thể dục Thể thao Toàn quân (tháng 12/1959).

(Ảnh: Vũ Tiu/TTXVN)

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp trao đổi tình hình chiến sự chiến trường miền Nam (5-7-1967).

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp trao đổi tình hình chiến sự chiến trường miền Nam (5-7-1967).

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, nói chuyện tại Đại hội Đoàn Thanh niên Lao động Toàn quân lần thứ nhất.

(Ảnh: Đoàn Tý/TTXVN)

Đồng chí Nguyễn Chí Thanh (đầu tiên, bên phải) cấy lúa với bà con xã viên Hợp tác xã Chiến Thắng, xã Lý Ninh, tháng 1-1962.

Ảnh: Báo Quân khu 4

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (1914-1967) – Ảnh tư liệu

Đồng chí Nguyễn Chí Thanh tại Phân khu Bình – Trị – Thiên.

Ảnh: BáoNhân dân

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Trưởng ban Công tác nông thôn Trung ương thăm trại chăn nuôi bò sữa. Ảnh tư liệu

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Trưởng ban Công tác nông thôn Trung ương thăm trại chăn nuôi bò sữa.

Ảnh: Báo Nhân dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tại Đại hội Đảng bộ Quân đội năm 1960. Ảnh tư liệu

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tại Đại hội Đảng bộ Quân đội năm 1960.

Ảnh tư liệu, nguồn: Cổng thông tin điện tử Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tại Chiến khu Việt Bắc năm 1951. (Nguồn: TTXVN)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tại Chiến khu Việt Bắc năm 1951. (Nguồn: TTXVN)

TƯ LIỆU VIDEO

Câu hỏi củng cố

Câu 1. Danh xưng Chủ tịch Hồ Chí Minh ưu ái gọi Đại tướng Nguyễn Chí Thanh để ghi nhận những đóng góp to lớn của ông cho hậu phương miền Bắc là




Câu 2. Dưới sự lãnh đạo của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, lực lượng chủ lực đã làm nên các chiến thắng vang dội nào sau đây góp phần đập tan quốc sách “ấp chiến lược” của địch?




Câu 3. Năm 1965, khi quân Mỹ ồ ạt đổ bộ vào miền Nam với ưu thế tuyệt đối về hỏa lực, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã đúc kết ra phương châm chiến thuật đặc sắc nào?




Câu 4. Cho đoạn tư liệu sau:


“Từ thực tiễn chiến trường kết hợp với tư duy chiến lược, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh sớm phát hiện sự chuyển hướng chiến lược của đế quốc Mỹ, từ chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, kịp thời chỉ đạo quân và dân miền Nam ứng phó hiệu quả. Cuối năm 1964, đầu năm 1965, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã chỉ đạo mở những chiến dịch đầu tiên của bộ đội chủ lực trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài), diệt gọn từng tiểu đoàn có cố vấn Mỹ chỉ huy, góp phần đánh bại chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” của Mỹ.”

(Bộ Quốc phòng, Ban Tuyên giáo Trung ương, Tỉnh Thừa Thiên Huế, 2023. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh – Nhà lãnh đạo chiến lược, người chỉ đạo thực hiện xuất sắc của cách mạng Việt Nam, NXB Quân đội Nhân dân)

ĐÚNG SAI
a) Nhờ tư duy chiến lược và thực tiễn chiến trường, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã sớm phát hiện sự chuyển hướng của đế quốc Mỹ từ chiến lược “Chiến tranh cục bộ” sang chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”.
b) Thắng lợi của các chiến dịch bộ đội chủ lực như Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài (1964-1965) đã trực tiếp đánh bại và làm phá sản hoàn toàn chiến lược ‘Chiến tranh cục bộ’ của đế quốc Mỹ tại miền Nam.
c) Việc đế quốc Mỹ buộc phải đưa quân viễn chinh và quân chư hầu vào trực tiếp tham chiến trên chiến trường miền Nam (từ năm 1965) thực chất là sự thừa nhận thất bại của nỗ lực “dùng người Việt đánh người Việt” trước đó.
d) Đoạn tư liệu cho thấy những đóng góp của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh vừa mang tầm nhìn chiến lược vĩ mô (phát hiện chuyển hướng chiến tranh), vừa mang tính chỉ đạo tác chiến cụ thể (mở chiến dịch, phá chiến thuật địch).

Câu 5. Cho đoạn tư liệu sau:


“Mùa khô năm 1965-1966, quân và dân miền Nam đã đập tan cuộc phản công chiến lược của đế quốc Mỹ và tay sai trên chiến trường miền Nam. Thực tiễn đó giúp Đại tướng Nguyễn Chí Thanh kết luận về thắng lợi tất yếu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là: Dù Mỹ có tăng thêm quân lên hàng triệu tên, sử dụng vũ khí và phương tiện kỹ thuật hiện đại thì quân và dân ta nhất định đánh bại cuộc Chiến tranh cục bộ của Mỹ. Đó cũng là bài học kinh nghiệm quý để Bộ Chính trị đề ra nhiệm vụ cụ thể cho quân và dân miền Nam tập trung đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai của đế quốc Mỹ (1966-1967)”.

(Bộ Quốc phòng, Ban Tuyên giáo Trung ương, Tỉnh Thừa Thiên Huế, 2023. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh – Nhà lãnh đạo chiến lược, người chỉ đạo thực hiện xuất sắc của cách mạng Việt Nam, NXB Quân đội Nhân dân, tr. 191)

ĐÚNG SAI
a) Thắng lợi của quân và dân miền Nam trong mùa khô 1965-1966 là cơ sở thực tiễn để Đại tướng Nguyễn Chí Thanh rút ra kết luận về quy luật của cuộc chiến.
b) Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nhận định rằng: nếu đế quốc Mỹ tiếp tục tăng quân số lên hàng triệu tên và sử dụng vũ khí hiện đại, quân và dân ta sẽ phải tạm thời lùi bước để bảo toàn lực lượng.
c) Loại hình chiến tranh xâm lược mà đế quốc Mỹ đang tiến hành ở miền Nam trong giai đoạn này được nhắc đến trong đoạn trích là chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”.
d) Thực tiễn và kết luận từ mùa khô 1965-1966 đã giúp Bộ Chính trị đề ra nhiệm vụ tập trung đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai (1966-1967) của Mỹ.