TIỂU SỬ

– Họ và tên khai sinh: Nguyễn Thị Châu Sa                 

Họ và tên thường gọi: Nguyễn Thị Bình

Sinh ngày: 26 tháng 5 năm 1927

Quê quán: xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Nơi ở hiện nay: Số 68B Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội

Dân tộc: Kinh                                             Tôn giáo: Không

Ngày vào Đảng CSVN: 10/1947,  ngày chính thức: 10/5/1948

Uỷ viên Trung ương Đảng khóa: V

Đại biểu Quốc hội khóa: VI, VII, VIII, IX, X

TÓM TẮT QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG

ĐÓNG GÓP CỦA NGUYỄN THỊ BÌNH ĐỐI VỚI

NGOẠI GIAO VIỆT NAM (1962 – 1975)

Từ năm 1962, bà Nguyễn Thị Bình được cử làm Ủy viên của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, phụ trách công tác đối ngoại. Với lợi thế thông thạo tiếng Pháp, cùng trình độ chuyên môn và kinh nghiệm hoạt động chính trị phong phú từ trước, bà nhanh chóng khẳng định năng lực và bản lĩnh trong lĩnh vực ngoại giao.

Trong giai đoạn này bà đã tham dự nhiều hội nghị quốc tế, đồng thời thăm và làm việc tại nhiều quốc gia xã hội chủ nghĩa và các nước có xu hướng tiến bộ trên thế giới góp phần quan trọng trong việc nâng cao vị thế và uy tín của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trên trường quốc tế. Đến cuối năm 1967, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam  đã thiết lập cơ quan đại diện tại hơn hai mươi quốc gia như Liên Xô, Trung Quốc, Cu Ba, Pháp, Đức, Mông Cổ,… Đặc biệt, Cu Ba là quốc gia đầu tiên đặt Đại sứ quán bên cạnh cơ quan của Mặt trận (30-6-1967), thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ đối với cách mạng miền Nam Việt Nam.

Cuối năm 1968, bà được cử làm Trưởng đoàn trù bị, sau đó là Phó Trưởng đoàn của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam  tham dự Hội nghị Paris (Trưởng đoàn là ông Trần Bửu Kiếm). Đây là bước chuyển quan trọng, đánh dấu sự tham gia trực tiếp của bà vào một hội nghị quan trọng có tác động đến thắng lợi của cách mạng miền Nam về sau.

Tháng 6-1969, khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập, bà được phân công giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao, đồng thời là Trưởng đoàn đại biểu của Chính phủ tại Hội nghị Paris, thay thế đoàn đại biểu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam

Ngày 4 tháng 11 năm 1968, ngay khi vừa đến Paris, bà đã công bố “Giải pháp 5 điểm” của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, với các nội dung chính:

  • Mặt trận phấn đấu vì độc lập, dân chủ, hòa bình, tiến tới thống nhất Tổ quốc.

  • Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, rút quân khỏi Việt Nam.

  • Công việc nội bộ miền Nam do nhân dân miền Nam tự quyết định.

  • Việc thống nhất Việt Nam do nhân dân Việt Nam tự tiến hành.

  • Miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách ngoại giao hòa bình, trung lập.

Những năm tháng tại Hội nghị Paris là một thử thách khắc nghiệt. Bà từng nhận xét: “Hội nghị Paris là một trận chiến quyết liệt, là những keo vật không đứt giữa các kỳ phùng địch thủ.” Dù vậy, hình ảnh “Madame Bình” vẫn gây ấn tượng mạnh với giới truyền thông phương Tây bởi những phát biểu thông minh, thuyết phục, lúc rắn rỏi, khi dí dỏm, khiến thế giới nể trọng và nhân dân phấn khởi.

Trên bàn đàm phán, bà thể hiện là người phụ nữ mềm mại nhưng khéo léo và đầy bản lĩnh. Giữa các kỳ họp, bà đảm nhiệm khối lượng công việc lớn và căng thẳng: tổ chức họp báo, trả lời phỏng vấn, tham dự các hội nghị quốc tế, đi nhiều nước châu Á, châu Âu, châu Phi, đồng thời nghiên cứu thông tin, chuẩn bị phương án đối phó với các đòn tấn công ngoại giao trong những phiên đàm phán tiếp theo.

Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết. Bà là người phụ nữ duy nhất đặt bút ký vào văn kiện lịch sử này. Chia sẻ về khoảnh khắc đó, bà nói: “Khi đặt bút ký vào bản hiệp định chiến thắng, nghĩ đến những đồng bào, đồng chí ngã xuống – những người không còn có thể biết được sự kiện trọng đại này, mắt tôi bỗng nhòe ướt. Trong cuộc đời tôi, đây là vinh dự rất lớn vì được thay mặt nhân dân, các chiến sĩ cách mạng để đấu tranh trực diện với kẻ thù xâm lược ngay tại Paris, được đặt bút ký vào bản hiệp định chiến thắng sau 18 năm cả nước tiến hành cuộc chiến đấu chính nghĩa đầy hy sinh gian khổ… Đó có lẽ là kỷ niệm sâu sắc nhất trong cuộc đời ngoại giao của tôi.”

SỔ TAY LỊCH SỬ

Bà Nguyễn Thị Bình còn được mệnh danh là

“Bông hồng thép trên bàn đàm phán”

Năm 1971, tại một khách sạn sang trọng ở trung tâm Paris, có một người phụ nữ Việt Nam nhỏ nhắn đã một mình bước vào “tâm bão” truyền thông. Đối diện với bà là hơn 20 phóng viên Mỹ, nhiều người trong số họ vốn mang định kiến nặng nề và cái nhìn đầy thách thức. Họ bật đèn sân khấu, lắp máy quay, như muốn “soi” từng biểu cảm trên gương mặt bà. “Họ yêu cầu chỉ phỏng vấn bà Bình nhằm mục đích thăm dò xem người phụ nữ này có bản lĩnh thực sự không, có làm việc độc lập được không hay chỉ là một người đến “vâng, dạ” theo sự chỉ đạo của Hà Nội. Tuy nhiên, màn thể hiện của bà Bình thực sự khiến nhiều người “cứng họng”.

Trong suốt gần hai giờ đồng hồ, dưới làn đèn chói lóa ấy, bà vẫn bình thản, tiếng Pháp lưu loát, từng lời lẽ đanh thép nhưng đầy kiêu hãnh. Bà đã không chỉ trả lời phỏng vấn, bà đã “khiêu vũ” – một điệu nhảy đầy bản lĩnh giữa bầy sói. Sự kiện ấy đã làm chấn động dư luận thế giới, khiến họ phải thốt lên rằng: người phụ nữ ấy không chỉ là một nhà ngoại giao kiệt xuất, mà là một biểu tượng của ý chí Việt Nam.

 

Nguồn: Báo Quân đội Nhân dân

Bà Nguyễn Thị Bình tại lễ ký Hiệp định Paris.

Ảnh: Tư liệu

TƯ LIỆU HÌNH ẢNH

Bà Nguyễn Thị Bình chụp ảnh cùng Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam và đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trước khi sang Pháp, tháng 10/1968.
Bà Nguyễn Thị Bình chụp ảnh cùng Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam và đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trước khi sang Pháp, tháng 10/1968.
Nguồn: Vietnam.net

Trong ảnh là gia đình của nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình. Từ trái sang là thân phụ Nguyễn Đông Hới, bà Nguyễn Châu Sa (Nguyễn Thị Bình); ông Nguyễn Hà Đông, ông Nguyễn Đông Hải và thân mẫu Phan Thị Châu Lan.

Nguồn ảnh: Hồi ký Nguyễn Thị Bình – “Gia đình, Bạn bè và Đất nước”.

Bà Nguyễn Thị Bình kết hôn cùng ông Đinh Khang tại Hà Nội. Trong ảnh là khoảnh khắc gia đình đoàn tụ sau 5 năm bà tham gia đàm phán tại Hội nghị Paris.

Nguồn ảnh: Bà Ngô Thị Hồng Loan – Quỹ Hòa bình và Phát triển TPHCM

Bà Nguyễn Thị Bình cùng bà Ngô Bá Thành, bà Nguyễn Thị Định và ni sư Huỳnh Liên tham gia họp Quốc hội khóa 6 tại Hà Nội năm 1976.

Nguồn ảnh: Bảo tàng Chứng tích chiến tranh

Bà Nguyễn Thị Bình chụp ảnh lưu niệm cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị lãnh đạo cách mạng

Nguồn ảnh: VietNam.net

Nguyễn Thị Bình cùng đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam họp bàn kế hoạch trên bàn đàm phán, năm 1970

Bà Nguyễn Thị Bình và các cháu thiếu nhi năm 1994 (phải).

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình năm 2025

Nguồn: Vietnam.net

Thừa ủy quyền của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào, Đại sứ Khamphao Ernthavanh trao Huân chương Tự do hạng nhất tặng nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình ngày 21/5/2025.

Ảnh: Phạm Hải

TƯ LIỆU VIDEO

Câu hỏi củng cố

Câu 1. Tại Hội nghị Pa-ri (1968 – 1973), bà Nguyễn Thị Bình tham gia đàm phán và ký kết Hiệp định với tư cách là Trưởng đoàn đại biểu của tổ chức/chính quyền nào?




Câu 2. Trong cuộc đấu tranh ngoại giao giữa Việt Nam với Mỹ tại Hội nghị Pa-ri (1968-1973), nhân vật nào sau đây được báo chí quốc tế ca ngợi là “bông hồng thép trên bàn đàm phán”?




Câu 3. Từ năm 1967, đấu tranh ngoại giao của Việt Nam được nâng lên thành một mặt trận nhằm thực hiện chiến lược nào sau đây?




Câu 4. Cho đoạn tư liệu sau đây:


“Việc ký kết Hiệp định Paris là thắng lợi tổng hợp của cuộc đấu tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao. Với hiệp định, đế quốc Mỹ buộc phải chấm dứt chiến tranh, rút khỏi Việt Nam và Đông Dương, chấm dứt dính líu quân sự. Ngụy mất chỗ dựa, bị suy yếu và lún sâu vào khủng hoảng. Mỹ phải lùi về chiến lược, rút lui về quân sự khỏi Đông Dương và tránh một Việt Nam thứ hai”.

(Nguyễn Đình Bin (Chủ biên), Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015, tr.266)

ĐÚNG SAI
a) Thắng lợi của đấu tranh ngoại giao phải dựa trên thực lực của toàn dân tộc là một trong những bài học kinh nghiệm được rút ra từ việc ký kết Hiệp định Paris (1973).
b) Việc ký kết Hiệp định Paris (1973) đã đánh dấu sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam.
c) Đoạn tư liệu khẳng định Hiệp định Paris (1973) được ký kết là thắng lợi của sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao của nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
d) Hiệp định Paris (1973) là văn bản pháp lí quốc tế đầu tiên ghi nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam, được các nước tham dự hội nghị cam kết tôn trọng.

Câu 5. Cho đoạn tư liệu sau đây:


“…Ngày 27 – 1 – 1973, ngay khi kí Hiệp định Pa-ri – chúng ta đã đạt được thắng lợi to lớn, quan trọng. Mỹ phải rút hết đi, còn quân Việt Nam vẫn ở trên đất Việt Nam. Đặt bút ký vào Hiệp định Pa-ri lịch sử, tôi vô cùng xúc động… Tôi như thay mặt nhân dân và các chiến sĩ cách mạng miền Nam làm nhiệm vụ đấu tranh trên tiền tuyến và trong lao tù cầm ngọn cờ chiến thắng chói lọi. Đối với mỗi chúng tôi trong đoàn cũng là ngày không thể quên trong cả cuộc đời. Tất cả các báo trên thế giới đều đưa lên trang nhất sự kiện trọng đại này. Những người yêu hòa bình và công lý trên thế giới đều hoan hỉ, như chính mình đã chiến thắng…”

(Nguyễn Thị Bình, Hồi ký Gia đình, bạn bè và đất nước, NXB Tri thức, Hà Nội, 2013, tr.130-131)

ĐÚNG SAI
a) Việc Mỹ chấp nhận rút quân trong khi quân đội cách mạng vẫn ở lại miền Nam là một thắng lợi chiến lược, làm thay đổi cục diện chiến trường theo hướng có lợi cho cách mạng.
b) Đoạn tư liệu cho thấy thắng lợi của Hiệp định Pa-ri (1973) không chỉ là thành quả của nhân dân Việt Nam mà còn là niềm tự hào chung của các lực lượng chuộng hòa bình thế giới.
c) Theo đoạn tư liệu, việc ký kết Hiệp định Pa-ri (1973) đã đánh dấu sự kết thúc hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ, hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp giải phóng miền Nam.
d) Hiệp định Pa-ri đã giải quyết triệt để yêu cầu của nhân dân Việt Nam về việc xóa bỏ sự tồn tại của chính quyền tay sai ở miền Nam.