TIỂU SỬ
Họ và tên khai sinh: Phạm Văn Đồng
Họ và tên thường gọi: Tô (bí danh)
Năm sinh: 1 tháng 3 năm 1906
Năm mất: 29 tháng 4 năm 2000
Quê quán: xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi (nay là xã Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi)
Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không
Ngày vào ĐCSVN: Năm 1940 (tại Côn Minh, Trung Quốc)
Ủy viên Trung ương Đảng khóa: I (dự khuyết 1947, chính thức 1949), II, III, IV, V
Đại biểu Quốc hội khóa: I, II, III, IV, V, VI, VII
Phạm Văn Đồng là một trong những cán bộ cách mạng lớp đầu của Đảng và cách mạng Việt Nam, sớm tham gia phong trào yêu nước và nhanh chóng xác lập lý tưởng đấu tranh vì độc lập dân tộc. Quá trình hoạt động cách mạng trong hoàn cảnh bị thực dân đàn áp, tù đày và theo dõi gắt gao đã hun đúc ở đồng chí bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần kiên định và phẩm chất của một người cộng sản trung thành. Chính nền tảng ấy đã tạo điều kiện để Phạm Văn Đồng trở thành một trong những cán bộ lãnh đạo quan trọng của cách mạng Việt Nam trong các giai đoạn tiếp theo.
Trong thời kỳ vận động cách mạng đi tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, Phạm Văn Đồng thuộc đội ngũ cán bộ được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tin cậy giao phó nhiều nhiệm vụ quan trọng. Đồng chí tham gia vào quá trình xây dựng cơ sở chính trị, củng cố tổ chức cách mạng, tuyên truyền vận động quần chúng và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc giành chính quyền. Đóng góp của đồng chí trong giai đoạn này thể hiện ở vai trò của một cán bộ lãnh đạo tham gia thúc đẩy quá trình tập hợp lực lượng, phát triển phong trào cách mạng và góp phần tạo tiền đề cho thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám, mở ra kỷ nguyên độc lập cho dân tộc.
Ngay từ khi chính quyền cách mạng còn non trẻ, Phạm Văn Đồng đã được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao phó những trọng trách quan trọng trên mặt trận ngoại giao. Điển hình là các cuộc đàm phán với Pháp, trong đó có Hội nghị Fontainebleau năm 1946. Trong bối cảnh nước Việt Nam mới giành độc lập phải đối mặt với nhiều sức ép từ bên ngoài, hoạt động ngoại giao có ý nghĩa đặc biệt trong việc kéo dài thời gian hòa hoãn, tranh thủ điều kiện có lợi và khẳng định vị thế chính trị pháp lý của Nhà nước cách mạng. Sự hiện diện và đóng góp của Phạm Văn Đồng trong các cuộc tiếp xúc, thương lượng thời kỳ đầu đã cho thấy đồng chí là một nhà lãnh đạo sớm trưởng thành trên lĩnh vực ngoại giao, vừa kiên định vừa linh hoạt, đặt nền móng cho những thành công sau này.
Đỉnh cao trong sự nghiệp ngoại giao của Phạm Văn Đồng chính là Hội nghị Giơnevơ năm 1954. Với cương vị Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng chí đã dẫn dắt phái đoàn bước vào cuộc đấu trí ngoại giao với các cường quốc và các bên liên quan, trong bối cảnh quan hệ quốc tế phức tạp. Tại đây, Phạm Văn Đồng đã thể hiện rõ tư duy ngoại giao sắc sảo, khả năng lập luận chặt chẽ, bản lĩnh chính trị vững vàng và nghệ thuật kết hợp giữa kiên định nguyên tắc với linh hoạt sách lược.
Trước bàn Hội nghị, đồng chí vừa bảo vệ lập trường độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, vừa khéo léo tạo dựng sự đồng thuận, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế. Thành công của Hội nghị Giơnevơ, dẫn tới việc ký kết Hiệp định Giơnevơ năm 1954, gắn liền với vai trò quan trọng của Phạm Văn Đồng, góp phần tạo cơ sở pháp lý quốc tế cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Đóng góp của Phạm Văn Đồng trên lĩnh vực ngoại giao không chỉ dừng lại ở các sự kiện đàm phán cụ thể mà còn có ý nghĩa lâu dài trong việc xây dựng nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Đồng chí là một trong những người góp phần hình thành phong cách ngoại giao đặc trưng của Việt Nam hiện đại: chặt chẽ trong lập luận, mềm dẻo trong ứng xử nhưng kiên quyết trong nguyên tắc. Phong cách đó thể hiện sự kết hợp giữa “cương” và “nhu”, vừa giữ vững lợi ích dân tộc, vừa thể hiện tinh thần hòa hiếu, hữu nghị; vừa mang đậm tính chính nghĩa, vừa thấm đượm nghệ thuật thuyết phục và tranh thủ sự đồng tình của cộng đồng quốc tế. Phong cách ấy không chỉ là thành quả của riêng đồng chí mà còn kết tinh tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh, trở thành di sản tư tưởng và phương pháp quý báu cho các thế hệ làm công tác đối ngoại Việt Nam hôm nay và mai sau.
Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng trước tình thế đặc biệt hiểm nghèo: nền độc lập vừa giành được chưa được củng cố vững chắc, chính quyền cách mạng còn non trẻ, nền kinh tế kiệt quệ, nạn đói, nạn dốt hoành hành, trong khi các thế lực đế quốc và phản động trong, ngoài nước ra sức chống phá. Trong bối cảnh đó, Phạm Văn Đồng đã tham gia cùng Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào quá trình xây dựng, củng cố và bảo vệ chính quyền cách mạng. Ngay từ những năm đầu xây dựng chính quyền cách mạng, đồng chí đã đặc biệt coi trọng việc kiến tạo một bộ máy hành chính “của dân, do dân, vì dân”, hoạt động gọn nhẹ, hiệu quả và ít tốn kém.
Với quan điểm xuyên suốt rằng Nhà nước phải thực sự trong sạch, đồng chí kiên quyết chỉ đạo công tác phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu; coi đó là nhiệm vụ thường xuyên, cấp bách để làm nền tảng cho mọi hoạt động xây dựng và phát triển. Đóng góp của đồng chí thể hiện ở việc tham gia triển khai các chủ trương lớn nhằm ổn định tình hình chính trị – xã hội, củng cố bộ máy nhà nước, bảo vệ thành quả cách mạng và từng bước khẳng định vị thế của Nhà nước dân chủ nhân dân non trẻ. Đây là đóng góp quan trọng, đặt nền tảng cho vai trò lãnh đạo và quản lý nhà nước lâu dài của đồng chí trong các giai đoạn tiếp theo.
Trong các cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập dân tộc, đặc biệt là kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Phạm Văn Đồng là một trong những lãnh đạo cấp cao giữ vai trò quan trọng trong bộ máy Chính phủ. Đồng chí cùng tập thể lãnh đạo Đảng và Nhà nước tham gia chỉ đạo thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, đồng thời bảo đảm sự vận hành của chính quyền cách mạng trong điều kiện chiến tranh kéo dài và vô cùng khốc liệt.
Trên phương diện lãnh đạo, quản lý và điều hành, đóng góp của đồng chí không chỉ thể hiện ở việc tham gia hoạch định, tổ chức thực hiện các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, mà còn ở khả năng giữ vững sự ổn định của bộ máy nhà nước, huy động sức người, sức của cho tiền tuyến, kết hợp giữa kháng chiến với kiến quốc, giữa xây dựng hậu phương với chi viện cho tiền tuyến. Đây là phương diện thể hiện rõ vai trò của Phạm Văn Đồng như một nhà lãnh đạo hành chính, chính trị giàu bản lĩnh và kinh nghiệm.
Phạm Văn Đồng là một trong những người giữ cương vị Thủ tướng Chính phủ lâu năm nhất trong lịch sử Việt Nam hiện đại. Trên cương vị này, đồng chí cùng tập thể lãnh đạo Đảng và Nhà nước trực tiếp tham gia quản lý và điều hành đất nước trong nhiều giai đoạn lịch sử đặc biệt quan trọng. Trong thời kỳ đất nước tạm thời chia cắt, đồng chí góp phần chỉ đạo xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, giao thông và quốc phòng, qua đó tạo nên hậu phương lớn, vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Sau năm 1975, trong bối cảnh đất nước thống nhất nhưng phải đối diện với muôn vàn khó khăn do hậu quả chiến tranh để lại, Phạm Văn Đồng tiếp tục cùng tập thể lãnh đạo Đảng và Nhà nước chỉ đạo công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời sống nhân dân, thống nhất quản lý nhà nước trên phạm vi cả nước và từng bước xây dựng nền tảng cho thời kỳ phát triển mới. Những đóng góp đó cho thấy tầm vóc của đồng chí không chỉ ở vai trò một nhà cách mạng, mà còn ở cương vị một nhà quản lý đất nước tiêu biểu của Việt Nam thế kỷ XX.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm xưởng sản xuất vật liệu xây dựng của sinh viên trường Đại học Bách Khoa Hà Nội (năm 1969).
Ảnh: TTXVN
Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại Hội nghị Geneva năm 1954.
Ảnh: Võ Năng An – TTXVN
Ông Phạm Văn Đồng và Đoàn chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa dự Hội nghị Geneva năm 1954
(Ảnh: Võ Năng An/ TTXVN)
Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm một đơn vị bộ đội Hải quân (1/1980).
Ảnh: Xuân Lâm – TTXVN
Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong Lễ mừng công Chiến thắng Điện Biên Phủ tại Mường Phăng, ngày 13-5-1954. Ảnh tư liệu
Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến Hội nghị Geneva.
(Nguồn: Getty Images)
Nhân dịp tết Giáp Tý (tháng 2/1984), Chủ tịch HĐBT Phạm Văn Đồng thăm hỏi các gia đình cách mạng xã Đức Tân, huyện Mộ Đức.
Ảnh: Xuân Lâm-TTXVN. Nguyễn Đăng Lâm (Sưu tầm)
Các chị em Văn phòng Tỉnh ủy chúc Thọ Bác Phạm Văn Đồng 92 tuổi, ngày 01-3-1998.
Ảnh Nguyễn Đăng Lâm
Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ nhiệm Tổng cục chính trị Nguyễn Chí Thanh, Tổng bí thư Trường Chinh, Phó Thủ tưởng Phạm Văn Đồng tại Việt Bắc ( đầu tiên từ trái sang phải)
Ảnh: Tư liệu TTXVN
Câu 1: Khi tham gia đàm phán và kí kết Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), đồng chí Phạm Văn Đồng đang đảm nhiệm chức vụ quan trọng nào trong bộ máy Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa?
Câu 2: Một trong những hoạt động đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 là
Câu 3: Trước ngày 6 – 3 – 1946, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thực hiện chính sách đối ngoại nào sau đây?
Câu 4. Cho đoạn tư liệu sau:
“Hội nghị Giơ-ne-vơ là một cột mốc lịch sử đối với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ. Đây là lần đầu tiên ngoại giao cách mạng Việt Nam tham gia vào một hội nghị quốc tế đa phương trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến phức tạp, các nước lớn tham gia hội nghị đều có mục tiêu và lợi ích riêng. Mặc dù Hiệp định chưa phản ánh đầy đủ thắng lợi trên chiến trường của quân dân Việt Nam cũng như khả năng cách mạng của 3 nước Đông Dương sau chiến thắng Điện Biên Phủ, song Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh, việc kí kết Hiệp định cho thấy: “Ngoại giao ta đã thắng to”.
(Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Hoàng Hải Hà (đồng chủ biên), Giáo trình lịch sử ngoại giao Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2022, tr.201)
| ĐÚNG | SAI | |
|---|---|---|
| a) Hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết là thắng lợi đầu tiên trong hoạt động ngoại giao của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. | ||
| b) Hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết đã phản ánh đầy đủ những thắng lợi mà quân dân Việt Nam giành được trên chiến trường. | ||
| c) Hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết tạo cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh thống nhất Việt Nam sau này. | ||
| d) Thắng lợi của Việt Nam năm 1954 cũng là thắng lợi của các lực lượng xã hội chủ nghĩa, hòa bình và dân chủ trên thế giới. |
Câu 5. Cho đoạn tư liệu sau:
“Hiệp định Giơ-ne-vơ là một văn kiện được các nước ghi nhận đã nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, chưa có quốc gia nào trên thế giới công nhận nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa…Nhưng đến Hội nghị Giơ-ne-vơ, với sự tham dự của năm cường quốc, bản tuyên bố cuối cùng đã ghi nhận nền độc lập, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của cả Việt Nam, Lào, Campuchia […] Điều đó nói lên vị thế quốc tế của Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã được nâng cao, tạo cơ sở cho tiến trình đấu tranh tiếp theo trong thời kì chống đế quốc Mỹ”.
(Vũ Dương Ninh, Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam 1940-2010, NXB Chính trị Quốc gia/Sự thật, 2015, tr.143-144)
| ĐÚNG | SAI | |
|---|---|---|
| a) Trong bối cảnh mâu thuẫn Đông-Tây diễn ra căng thẳng, Hiệp định Giơ-ne-vơ là kết quả của sự kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao của quân dân Việt Nam, không có sự chi phối của nước lớn. | ||
| b) Tại Hội nghị Giơ-ne-vơ, lần đầu tiên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham dự một hội nghị quốc tế đa phương để đấu tranh bảo vệ các quyền dân tộc cơ bản trên bàn đàm phán. | ||
| c) Theo tư liệu, Hiệp định Giơ-ne-vơ đã ghi nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam. | ||
| d) Bài học về kiên định phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong Hội nghị Giơ-ne-vơ được kế thừa, vận dụng sáng tạo để xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”. |